Hotline: 024.62511017

024.62511081

  Trang chủ   Sản phẩm   Phần mềm Dành cho nhà trường   Phần mềm Hỗ trợ học tập   Kho phần mềm   Liên hệ   Đăng nhập | Đăng ký

Tìm kiếm

School@net
 
Xem bài viết theo các chủ đề hiện có
  • Hoạt động của công ty (728 bài viết)
  • Hỗ trợ khách hàng (494 bài viết)
  • Thông tin tuyển dụng (57 bài viết)
  • Thông tin khuyến mại (81 bài viết)
  • Sản phẩm mới (218 bài viết)
  • Dành cho Giáo viên (552 bài viết)
  • Lập trình Scratch (3 bài viết)
  • Mô hình & Giải pháp (155 bài viết)
  • IQB và mô hình Ngân hàng đề kiểm tra (126 bài viết)
  • TKB và bài toán xếp Thời khóa biểu (242 bài viết)
  • Học tiếng Việt (182 bài viết)
  • Download - Archive- Update (289 bài viết)
  • Các Website hữu ích (71 bài viết)
  • Cùng Học (98 bài viết)
  • Learning Math: Tin học hỗ trợ học Toán trong nhà trường (74 bài viết)
  • School@net 15 năm (153 bài viết)
  • Mỗi ngày một phần mềm (7 bài viết)
  • Dành cho cha mẹ học sinh (123 bài viết)
  • Khám phá phần mềm (122 bài viết)
  • GeoMath: Giải pháp hỗ trợ học dạy môn Toán trong trường phổ thông (36 bài viết)
  • Phần mềm cho em (13 bài viết)
  • ĐỐ VUI - THƯ GIÃN (360 bài viết)
  • Các vấn đề giáo dục (1209 bài viết)
  • Bài học trực tuyến (1033 bài viết)
  • Hoàng Sa - Trường Sa (17 bài viết)
  • Vui học đường (276 bài viết)
  • Tin học và Toán học (220 bài viết)
  • Truyện cổ tích - Truyện thiếu nhi (181 bài viết)
  • Việt Nam - 4000 năm lịch sử (97 bài viết)
  • Xem toàn bộ bài viết (8222 bài viết)
  •  
    Đăng nhập/Đăng ký
    Bí danh
    Mật khẩu
    Mã kiểm traMã kiểm tra
    Lặp lại mã kiểm tra
    Ghi nhớ
     
    Quên mật khẩu | Đăng ký mới
    
     
    Giỏ hàng

    Xem giỏ hàng


    Giỏ hàng chưa có sản phẩm

     
    Bản đồ lưu lượng truy cập website
    Locations of visitors to this page
     
    Thành viên có mặt
    Khách: 8
    Thành viên: 0
    Tổng cộng: 8
     
    Số người truy cập
    Hiện đã có 81869780 lượt người đến thăm trang Web của chúng tôi.

    SÁCH QUỐC-VĂN GIÁO-KHOA THƯ

    Ngày gửi bài: 13/05/2010
    Số lượt đọc: 3274

    Đôi lời thưa trước
    Cuốn sách Quốc-văn giáo-khoa thư – sách tập đọc và tập viết dành cho Lớp dự - bị lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1935, sách do Nha Học – chính Đông – Pháp giao cho ông Trần Trọng Kim, ông Nguyễn Văn Ngọc, ông Đặng Đình Phúc và ông Đỗ Thận biên soạn. Cuốn sách này mới đây đã được Nhà xuất bản Thế giới phát hành năm 2000.

    Đây là một cuốn sách rất quý giá, có giá trị sư phạm và văn học rất lớn mà cho đến ngày nay khó có một bộ sách nào sánh kịp với nó. Cuốn sách trở thành nhân chứng lịch sử một thời về nền giáo dục nói chung và việc học Tiếng Việt nói riêng của thời kỳ những năm đầu của thế kỷ XX.

    Trong một thời gian dài, lớp lớp học sinh tiểu học thời bấy giờ đều được học tập và rèn luyện từ Bộ sách Tiểu học Tùng thư này. Mỗi bài học trong cuốn sách đều thật giản dị và đầy ý nghĩa nhằm bồi dưỡng những kiến thức cơ bản đầu đời cho các em nên người, những bài học dạy các em đạo lý làm con cháu hiếu thảo, lễ nghĩa với thầy cô, chan hòa với bạn bè và trở thành người giàu lòng tự trọng với tình yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào mình…

    Và bởi chính những bài học đạo đức có giá trị sâu sắc đầy tính nhân văn đó mà trải qua bao nhiêu năm, cuốn sách ngày càng được trân trọng và giữ gìn.

    Chúng tôi xin đăng tải lời tựa của cuốn sách Quốc-văn giáo-khoa thư của dịch giả Hữu Ngọc đến bạn đọc. Mời các bạn đón xem!

    LỜI TỰA

    (của dịch giả Hữu ngọc)


    Quốc-văn giáo-khoa thư

    Trẻ con sống trong hiện tại, lớn lên sống trong tương lai, về già sống trong dĩ vãng. Nhận xét này do một cuốn sách tâm lý học phương Tây nêu lên phải chăng là một quy luật phổ biến? Tôi không có ý tranh luận ở đây.

    Có điều là nhiều người cao tuổi, theo chỗ tôi biết, thích nghĩ về quá khứ, nhớ lại những sự việc và con người thuộc quá khứ có khi còn tinh tường hơn những sự việc và con người thuộc thời gian gần hơn, nhất là khi tuổi đã sắp “cổ lai hy”.

    Tôi đã có dịp hỏi nhiều người Việt Nam tuổi ngoài sáu mươi (kể cả Việt kiều) đã từng theo học trường Tiểu học Pháp-Việt dăm sáu năm trước Cách mạng tháng Tám 1945: “Bác có nhớ sách Quốc-văn giáo-khoa thư không?”. Hầu như tất cả đều gợi lại một cách trìu mến bộ sách ấy với những câu khó quên: “Ai bảo chăn trâu là khổ?”, “Chỗ quê hương là đẹp hơn cả”, “Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”… Có người còn đọc một mạch một số bài, không quên một chữ.

    Cái gì đã khiến cho bộ sách 3 tập dạy Việt Văn cho trẻ 7-8-9 tuổi do chính quyền thực dân Pháp cho soạn để phục vụ một nền giáo dục cơ bản là ngu dân mà lại để lại những rung cảm lưu luyến trong lòng những thế hệ 60-70 tuổi đã từng kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến thắng lợi Điện Biên Phủ?

    Lý do thứ nhất có lẽ là lý do tâm lý. Trừ những trường hợp thật bi đát, khi nghĩ về quá khứ, nhất là về thời thơ ấu, người ta thường nhớ đến cạnh khía đẹp hơn cạnh khía xấu, - thời gian tô vẽ nó đẹp hơn thực tế sống.

    Lý do thứ hai là có sự đan xen giữa hai hiện tượng chế độ thực dân và tiếp biến văn hóa (acculturation). Tuy Quốc-văn giáo-khoa thư chỉ là sách cho trẻ em, nó cũng phản ánh khá rõ rệt hai hiện tượng ấy.

    Tuy Quốc-văn giáo-khoa thư chỉ là sách cho trẻ em, nó cũng phản ánh khá rõ rệt hai hiện tượng ấy.

    Thực chất của chủ nghĩa thực dân, con đẻ chủ nghĩa đế quốc, là xâm chiếm đất của các dân tộc nhược tiểu để bóc lột làm giàu. Nó được ngụy trang bằng lý thuyết “nhiệm vụ người da trắng khai hóa cho người da màu”, “mang văn minh đến cho các dân tộc lạc hậu”. Giáo dục được quan niệm qua lăng kính này. Và Quốc-văn giáo-khoa thư là một công cụ phục vụ chính sách thực dân pháp, do Nha học chính Đông Pháp xuất bản từ những năm 20. Dĩ nhiên, sách có một số bài (tỷ lệ không nhiều) đề cao công cuộc “khai hóa” của thực dân pháp, như: Ông Paul Bert (toàn quyền), - Nước có trị thì dân mới an (Chính phủ Bảo hộ dẹp loạn), - Hà Nội, kinh đô mới ngày nay, - Đường xe lửa chạy suốt xứ Đông Pháp… Hẳn là một số thành tích này là có thật, nhưng được thực hiện không do mục đích nhân đạo mà do mục đích cuối cùng là tạo điều kiện để khai thác thuộc địa. Còn những biện pháp bóc lột đàn áp dã man thì không nói đến.

    Bỏ phần tiêu cực đi, phần tích cực còn lại của Quốc-văn giáo-khoa thư có lẽ là chủ yếu. Nhớ lại, hồi còn bé, khi đi học, những cái gì là “nịnh tây” chúng tôi đều coi thường, có lẽ trong tiềm thức của người dân mất nước đã sẵn có chất men phản kháng.

    Còn lại là những bài phản ánh sự “tiếp biến văn hóa” Việt (phương Đông)-Pháp (phương Tây) theo nghĩa tốt của nó. Song song với ảnh hưởng chủ nghĩa thực dân, nhiều khi ngoài ý muốn của chủ nghĩa thực dân, nền văn hóa Việt Nam đã biết tiếp thu cái mới của phương Tây và bảo tồn cái gốc của phương Đông, của bản sắc dân tộc.

    Trong Quốc-văn giáo-khoa thư, trẻ em Việt Nam đã học hỏi, làm quen với lời văn giản dị, khúc triết của ngôn ngữ Pháp, với các kiến thức khoa học như: Bệnh ghẻ, Mây và mưa, Con ong, Đau mắt, Bệnh chó dại, Tinh tú…

    Cái quan trọng nhất mà các thế hệ kháng chiến chống Pháp trìu mến trong Quốc-văn giáo-khoa thư là các tác giả, bằng những bài không quá 200 chữ, đã kết tinh được hồn văn hóa dân tộc, đặc biệt nâng niu tình yêu gia đình, làng xóm, quê hương, lịch sử oai hùng của cha ông. Người Pháp có một kẽ hở trong chương trình giáo dục các cấp, do đánh giá chủ quan: họ không cho học môn lịch sử ở bậc đại học, chỉ cho học lịch sử nước Pháp ở ban tú tài mà học sinh Việt Nam đã thấm nhuần ý tưởng tự do, độc lập dân tộc của Cách mạng Pháp 1789. Trong Quốc-văn giáo-khoa thư những bài về lịch sử Việt Nam dĩ nhiên không nói gì đến phong trào chống Pháp mà chỉ hướng về những cuộc nổi dậy chống xâm lược Trung Quốc (Chị em Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn…). Có lẽ với ý đồ chĩa mũi dùi vào Trung Quốc, coi đó là kẻ thù chính của Việt Nam, chứ không phải là Người Pháp (Giặc khách ở Bắc Kỳ). Nhưng chính những bài ấy lại thổi bùng ngọn lửa yêu nước chống mọi ngoại xâm (kể cả Pháp).

    Ngoài ra một mảng lớn các bài (kể cả ca dao) ca ngợi cái đẹp của đời sống nông thôn (Làng tôi, Chỗ quê hương, Rủ nhau đi cấy, Công việc người làm ruộng…), đề cao những đức tính lao động, hiếu thảo, tình thày trò, tình thương yêu đồng loại… trong khuôn khổ không học và nền đạo lý dân gian.

    Vì những lý do trên, Việt kiều ở Pháp đã tái bản Luân-lý giáo-khoa thư cho con em học tiếng Việt và gắn với quê hương, và ở Hà Nội, một cuốn sách phụ đạo về luân lý đã in lại một số bài trong đó.

    LỜI NGƯỜI DỊCH

    “Sự hiểu biết về tổ quốc là nền tảng của mọi nền học vấn đích thực”. Câu nói mở đầu lời tựa cho cuốn “Hai đứa trẻ đi vòng quanh nước Pháp” (1905) ấy cũng có thể ghi lên trang đầu cuốn sách này.

    Đây là cuốn sách tập đọc bằng chữ quốc ngữ cho học sinh lớp dự bị (bản xứ) dưới thời Pháp thuộc. Cuốn sách được Nha học chính Đông Pháp đặt biên soạn từ những năm 1930, giữa thời kỳ “Bảo hộ”.

    Ngày nay, việc đọc lại nó sẽ khiến những người đã từng sống qua cơn Bão táp lớn mỉm cười buồn rầu pha chút buồn nhớ nhung: chính tả đã thay đổi, cách hành văn thường cổ lỗ và mang phong cách tỉnh lẻ, các ý trong bài học và các bài tập có vẻ trịnh trọng quá mức và “lạc hậu”.

    Chính vì thế mà nó trở thành một nhân chứng lịch sử có thể hấp dẫn không chỉ người Việt Nam còn nói tiếng pháp, mà cả con cái của những người xa xứ muốn tìm lại đôi chút cội rễ của mình. Những bài khoa học thường thức đơn giản và trực tiếp này sẽ giúp họ tìm thấy hoặc tìm lại được nhiều nét của văn hóa Việt Nam.

    Việc dịch cuốn sách này được ông Hữu Ngọc, chuyên gia xuất sắc về văn hóa Việt Nam cũng như văn hóa Pháp, gợi ý. Nhằm mục đích làm cho độc giả nói tiếng Pháp có thể hiểu được bản gốc tiếng Việt, bản dịch này bám sát bản gốc ở mức độ cao nhất có thể. Không tham vọng, nhằm tính giản dị, bản dịch này có thể có vẻ khá tẻ nhạt, đôi khi vụng về, nhưng độc giả sẽ dễ dàng tưởng tượng ra một bản dịch đúng hơn với cái thần của ngôn ngữ. Cách trình bay như vậy là cần thiết cho việc học tiếng Việt, và hiểu biết tiếng việt đi đôi với sự tồn tại của tiếng Pháp ở Việt Nam, bởi vì các trao đổi văn hóa và ngôn ngữ phải được tiến hành từ cả hai phía. Đối với tôi, việc dịch đúng từng từ đã giúp tôi học được nhiều điều mà trước đây tôi không chú ý lắm.

    Tôi đã mất không ít công sức để thể hiện lại bản gốc một cách trung thực nhất. Nguyễn Ngọc Ánh đã giúp tôi sửa một số nhầm lẫn và thường giúp tôi hiểu được sắc thái chính xác của từ. Về nguyên tắc, tôi là người duy nhất chịu trách nhiệm về những nhầm lẫn còn sót lại. Việc xuất bản một cuốn sách kiểu này, với minh họa từ thời đó, chỉ có thể thực hiện được về mặt kỹ thuật và tài chính ở Việt Nam. Tôi cảm ơn Nhà xuất bản Thế Giới đã nhận trách nhiệm ấy.

    Hy vọng rằng cuốn sách này, ngay cả bản dịch tiếng pháp của nó, cũng sẽ là một niềm vui, có thể là xen lẫn chút nhớ nhung, đối với các bạn học của tôi ở Trường Puginier, Trường trung học Albert Sarraut và Trường Luật ở Hà Nội. Độc giả nào muốn biết nhiều hơn nữa, xin tham khảo những tác phẩm sau (phần lớn không thể tìm thấy nữa hoặc chỉ có các bản in lậu):

    - Phạm Quỳnh, Le paysan tonkinois à travers le parler populaire, Hanoi, 1943.

    - Pierre Huard et Maurice Durand, Connaissance du Vietnam, Paris-Hanoi,1945.

    - Dương Đình Khuê, La littérature populaire vietnamienne, Saigon, 1967; réédition Bruxelles, 1967.

    - Lê Thành Khôi, Aigrettes sur la rizère, Paris, 1995.

    - Hữu Ngọc, Esquisses pour un portrait de la culture vietnamienne, Hanoi, 1995.

    - Hữu Ngọc, Esquisses pour un portrait de Hanoi, Hanoi, 1997.

    - Hữu Ngọc, Dictionnaire de la culture traditionnelle du Vietnam, Hanoi, 1997.

    Tôi đã sử dụng rất hiệu quả các tác phẩm sau này:

    - Victor Barbier, Miss. ap., Dictionnaire Annamite-Francais, 3e édition, Hanoi-Haiphong, 1929.

    - Alfred Léon Bouchet, Lexique Annamite-Francais, 4e édition, Haiphong, 1934.

    - Gustave Hue, Miss. ap., Dictionnaire Vietnamien-Chinois-Francais, 1937, Trung Hòa, nouvelle édition, Saigon, 1991.

    - Dictionnaire Vietnamies-Chinois, You Feng, Paris s.d.

    Louis Sizare

    Luxembourg

    Tết Canh Thìn - 2000

    1. Tràng học vui

    2. Ngày giờ đi học

    3. Đi học để làm gì?

    4. Lịch sử nước ta

    5. Khuyến hiếu đễ

    6. Mau trí-khôn

    7. Người ta cần phải làm việc

    8. Làng tôi

    9. Chọn bạn mà chơi

    10. Khuân tảng đá

    11. Nội-thuộc nước Tàu

    12. Ông Tôi

    13. Bà ru cháu

    14. Cây sen

    15. Truyện hai chị em bà Trưng

    16. Chuyện người Thừa-Cung

    17. Đồ làm ruộng

    18. Bịnh ghẻ

    19. Bịnh ghẻ (tiếp theo)

    20. Học-trò chăm học

    21. Học-trò lười-biếng

    22. Chữ nho

    23. Nên giúp đỡ lẫn nhau

    24. Lễ phép với người tàn-tật

    25. Cày cấy

    26. Truyện ông Ngô-Quyền

    27. Mây và mưa

    28. Thợ làm nhà

    29. Chăn trâu

    30. Vua Lý Thái-tổ dời đô ra thành Hà-nội

    31. Chỗ quê hương đẹp hơn cả

    32. Ngoan (giỏi) được khen, hư phải chê

    33. Con ong

    34. Ông Trần-Quốc-Tuấn

    35. Mấy lời khuyên về vệ-sinh

    36. Ngày giỗ

    37. Bữa cơm ngon

    38. Ông Lê-Lai liều mình cứu chúa

    39. Tối ở nhà

    40. Con cò mà đi ăn đêm

    41. Ta không nên ngã lòng

    42. Truyện gươm thần của vua Lê-Lợi

    43. Cái cày

    44. Con trâu

    45. Con chim với người làm ruộng

    46. Vua Lê Thánh-Tôn

    47. Kính trọng người già cả

    48. – Lòng thương kẻ tôi-tớ

    49. Học-trò biết ơn thầy

    50. Các khoa thi

    51. Học thuộc lòng

    52. Làm người phải học

    53. Chùa làng tôi

    54. Mưa dầm gió bấc

    55. Cơn mưa

    56. Đứa bé và con mèo

    57. Ông Nguyễn- Kim

    58. Trang-sức

    59. Ăn mặc phải giữ-gìn

    60. Một cái thư

    61. Ông tổ sáng nghiệp nhà Nguyễn: ông Ngyễn-Hoàng

    62. Thư gửi mừng thầy học

    63. Cái cò, cái vạc, cái nông.

    64. Chim sơn-ca(chuyện-chuyện)

    65. Lũy Đồng-hới

    66. Con chuột

    67. Ở sạch thì không hay đau mắt

    68. Lý-trưởng làng ta

    69. Cố Alexandre de Rhodes và việc đặt ra chữ quốc-ngữ

    70. Tuần phu

    71. Thú thật

    72. Đi câu

    73. Người đi cấy

    74. Da

    75. Người ta cần phải vận-động

    76. Ba thầy thuốc giỏi

    77. Phải có thứ tự

    78. Rau muống

    79. Bắp ngô

    80. Gừng và riềng

    81. Chuyện ông Tử-Lộ

    82. Phải bạo-dạn mới được

    83. Truyện Sơn- tinh, Thủy- tinh

    84. Anh em phải hòa thuận

    85. Bịnh chó dại

    86. Đền Ngọc-sơn ở Hà-Nội

    87. Không đánh đáo

    88. Tiếng động ban đêm

    89. Gió

    90. Các lăng-tẩm ở Huế

    91. Công nghệ

    92 . Người đi buôn thật thà

    93. Chơi đùa không phải là vô ích

    94. Ông vua có lòng thương dân

    95. Mặt trời

    96. Mặt trăng

    97. Các cách đi thủy đi bộ

    98. Cối giã gạo

    99. Nhà ở phải sạch-sẽ và có ngăn-nắp

    100. Các tinh-tú

    101. Công việc của người làm ruộng

    102. Viện Pasteur

    103. Nghỉ hè/a>

    104. Ông già với bốn người con

    105. Người khôn hơn loài vật

    School@net (Theo Quốc-Văn Giáo-Khoa Thư )



     Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


    Những bài viết khác:



    Lên đầu trang

     
    CÔNG TY CÔNG NGHỆ TIN HỌC NHÀ TRƯỜNG
     
    Phòng 804 - Nhà 17T1 - Khu Trung Hoà Nhân Chính - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
    Phone: 024.62511017 - 024.62511081
    Email: kinhdoanh@schoolnet.vn


    Bản quyền thông tin trên trang điện tử này thuộc về công ty School@net
    Ghi rõ nguồn www.vnschool.net khi bạn phát hành lại thông tin từ website này
    Site xây dựng trên cơ sở hệ thống NukeViet - phát triển từ PHP-Nuke, lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL.