Cong ty Cong Nghe Tin hoc Nha truong http://www.schoolnet.vn

GS.TS Trần Trí Dõi: Bó tay vì cơ chế quản lý...
21/11/2007

Giáo sư Tiến sĩ Trần Trí Dõi, Chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) - cho rằng dù rất muốn cải tiến chương trình đào tạo sau đại học cho phù hợp hơn nhưng trường “đành bó tay” vì cơ chế quản lý của Bộ Giáo dục - Đào tạo quá lạc hậu.

Phóng viên (PV): Xin giáo sư cho biết việc đào tạo tiến sĩ (TS) ở khoa Ngôn ngữ học?

Giáo sư Trần Trí Dõi (TTD): Từ năm 1978 đến nay, ngành Ngôn ngữ học (NNH) đã đào tạo 118 tiến sĩ. Hiện nay, năm học 2006-2007 tại khoa NNH đang quản lý 42 nghiên cứu sinh (NCS), trong đó có 15 NCS nước ngoài thuộc các nước Trung Quốc, Mỹ , Nga, Nhật, Hàn, Thái, …



PV: Bản thân giáo sư có tham gia giảng dạy Cao học và Tiến sĩ?

TTD: Tất nhiên là tôi có tham gia đào tạo và quản lý Sau đại học (SĐH). Dạy thì từ năm 1995. Còn quản lý thì năm 1988 đến 1991 là Trợ lý đào tạo SĐH cho GS Nguyễn Kinh Đính (Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn ĐH Tổng hợp Hà Nội trước đây); từ 1995 đến nay liên tục phụ trách đào tạo SĐH của khoa Ngữ văn ĐH Tổng hợp Hà Nội trước đây và sau đó là khoa NNH - ĐH KHXH & NV HN hiện nay.

PV: GS có trực tiếp giảng dạy môn học nào không?

TTD: Tôi dạy môn “Phương pháp so sánh - lịch sử trong NNH”. Ngoài ra hiện nay còn dạy 3 môn tự chọn trong các chuyên đề Cao học : “Những vấn đề Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam”, “ Thảo luận một vài vấn đề ngôn ngữ và văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam”, “Giáo dục ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam”.

PV: Môn học “Phương pháp so sánh lịch sử trong NNH” có được giảng dạy ở ĐH không ạ?

TTD: Tên môn học đó không có ở bậc ĐH mà chỉ các môn cụ thể khác như về văn hóa, địa danh, lịch sử các tiếng. Khi làm tiến sĩ là sử dụng tất cả những kiến thức ở ĐH và cao học để giải quyết vấn đề trên cơ sở một phương pháp cụ thể nên mới cần phải học. Khi làm tiến sĩ yêu cầu phải có một đóng góp mới về nội dung vấn đề hoặc điều chỉnh tính phương pháp trong nghiên cứu nên mới cần phải học. Còn thạc sĩ thì chỉ cố gắng tiếp thu kiến thức đã có để định hướng nghiên cứu sau này hoặc xem những vấn đề người khác nghiên cứu và giải quyết như thế nào nhằm ứng dụng vào công việc cụ thể của người học là được.

PV: Môn học “Phương pháp so sánh lịch sử trong NNH” ở bậc đào tạo Cao học và Tiến sĩ có gì khác nhau hay vẫn một nội dung như thế, thưa giáo sư?

TTD: Khác nhau chứ. Tôi đã giải thích ở trên rồi. Nếu như ở ĐH chỉ nắm bắt kiến thức ở những ngôn ngữ cụ thể thì ở Cao học phải học kiến thức, rồi từ đó biết phương pháp và thao tác làm việc để giúp mình hiểu bản chất của vấn đề. Nhưng lên tiến sĩ phải đi sâu vào giải quyết vấn đề nào đó một cách có phương pháp. Ví dụ cùng vấn đề Ngôn ngữ lịch sử nhưng đối với VN giải quyết bằng những thao tác khác, ở Mỹ khác và ở Trung Quốc cũng khác. Việc điều chỉnh các thao tác ấy chính là làm việc một cách có phương pháp.

PV: Như vậy Cao học là đặt vấn đề, Tiến sĩ là công cụ giải quyết vấn đề?

TTD: Nói là công cụ chỉ đúng một nửa. Vấn đề là anh phải sử dụng công cụ đó như thế nào.

PV: Tại sao không thể gói gọn vào bậc Cao học để lên Tiến sỹ có thể học những chuyên đề mới và sâu hơn?

TTD: Gói gọn để làm gì khi Cao học không định giải quyết được một vấn đề cụ thể. Cao học phải học rất nhiều kiến thức. Với lại, có những người học Cao học nhưng không hoặc không thể học Tiến sĩ. Thế nên học Cao học chỉ là tiếp thu kiến thức đang có. Còn dạy Tiến sĩ phải tạo ra người nghiên cứu. Hai bậc học ấy phải khác nhau, rất khác nhau, không thể nhồi nhét.. Tôi xin nói lại, lên Tiến sĩ là trở thành những người nghiên cứu thực sự, còn Cao học chỉ tiếp thu kiến thức của người khác.

PV: Bản thân thầy đã có quá trình đào tạo lâu, giáo sư có thấy những Tiến sĩ của Việt Nam đúng là những người nghiên cứu thực chất như giáo sư nói?

TTD: Ngành khác thì tôi không biết nên không dám nhận xét. Nhưng riêng ngành Ngôn ngữ học ở khoa NNH, chúng tôi cố gắng đào tạo đạt trình độ đúng như thế. Một trong những điều chứng minh cho thực tế ấy là không có khoa nào ở ĐH KHXH & NV hiện nay có đông các học viên SĐH từ các trường ĐH khác nhau trên thế giới sang VN để học như ở khoa chúng tôi.

PV: Theo giáo sư, nguyên nhân nào mà họ học ở khoa đông như vậy?

TTD: Có rất nhiều lý do. Nhưng tôi chỉ xin nói một trong những lý do là chương trình đào tạo ở khoa chúng tôi. Chúng tôi đã “mềm hóa chương trình”. Sở dĩ phải nói “mềm hóa” là vì quy chế đào tạo ở ta cứng nhắc, thuần hành chính chứ không khoa học. Ví dụ, quy chế quy định chương trình Cao học của VN cứ phải 2 phần bắt buộc, chỉ tự chọn 1 phần. Tức là nếu một chương trình sau đại học nào đó có 10 môn học thì quy chế bắt tất cả mọi người phải học chung tới 7 môn, còn chỉ 3 môn là tự chọn. Mà 3 môn tự chọn ấy nhiều lắm cũng chỉ được chọn trong số 6 môn nữa mà thôi. Đào tạo SĐH phải thoả mãn nhu cầu xã hội và khuyến khích sáng tạo. Quy chế quy định như vậy thì làm sao mà thoả mãn được nên phải “mềm hóa”. Trên thế giới họ không bó buộc kiểu hành chính như ta, ví dụ chương trình SĐH của ĐH Stanford (Mỹ) họ không “quy định” như thế mà cho người học “chọn thoải mái”.

PV: Đấy có phải là một bất cập vì có những môn ở ĐH sẽ trùng với môn ở Cao học và Tiến sĩ?

TTD: Có thể! Vì cứ bắt buộc nên có nơi sẽ trùng. Nhưng những cơ sở đào tạo tốt thì không được phép trùng. Hay tên môn học có thể trùng nhưng khi dạy không được phép trùng. Nếu theo cơ chế tự chọn thì sinh viên sẽ không chọn những môn trùng lặp.

Nhưng hiện nay chúng tôi vẫn bị bắt buộc bảo dảm chương trình theo quy định lạc hậu như thế của Bộ Giáo dục – Đào tạo (2 phần bắt buộc, 1 phần tự chọn). Vừa rồi, chúng tôi được phép xây dựng chương trình lại, nhưng những người nhân danh quản lý vẫn yêu cầu chúng tôi thực hiện điều quy định từ năm 2001 ấy. Mặc dù chúng tôi có “một lô giáo sư chuyên ngành” bàn đi bàn lại, lấy kinh nghiệm đào tạo để thuyết đi trình lại nhiều lần nhưng những người quản lý vẫn “y án”.

Đành bó tay. Bây gìờ cứ kêu gọi đào tạo đẳng cấp quốc tế nhưng tôi nghĩ trước hết phải kêu gọi quản lý giáo dục theo đẳng cấp quốc tế hay đạt trình độ quốc tế đi đã. Cái đó là sự kìm hãm ĐH VN đạt trình độ quốc tế hiện nay đó.

PV: Thực tế khoa NNH cũng có những môn học trùng lặp như vậy không?

TTD: Đối tượng học Cao học ở khoa tôi rất đa dạng. Không chỉ sinh viên đã tốt nghiệp khoa NNH mà còn có nhiều sinh viên thuộc các ngành học khác gần với NNH theo học. Vì thế phải có những môn học thỏa mãn nhu cầu cho những người vốn từ nơi khác đến mà sinh viên NNH đã học rồi.

Cơ chế lạc hậu của Bộ đã kìm hãm sự lựa chọn của người học khiến cho một bộ phận nhỏ có thể bị trùng lặp. Thấy được điều ấy, khoa NNH khi làm lại chương trình, như tôi đã nói, xin chỉ “bắt buộc 1 phần, còn 2 phần được lựa chọn” và lựa chọn “một trong ba môn học khác nhau”. Nhưng khi xin phép, các quý vị “quản lý” nói rằng quy chế chỉ cho phép chọn 1 trong 2 môn học và phải 2 phần bắt buộc, 1 phần chọn. Bộ phận quản lý của trường nói là đã hỏi bộ phận quản lý của ĐHQG, thì bộ phận này bảo cứ “y quy chế”của Bộ, không được phép thay đổi. Đành bó tay. Rất khó khăn. “Quan” nên “trọng” lắm.

PV: Có nhiều người phản ánh lặp lại liên tục các môn học?

TTD: Phản ánh hay kiến nghị? Tôi nghĩ, việc quy định lại tỷ lệ tự chọn và bắt buộc có thể góp phần tránh được việc này. Với lại, vấn đề ở chỗ người thầy dạy phải yêu cầu học viên học như thế nào để thỏa mãn chất lượng đào tạo thì sẽ không có sự lặp lại đáng tiếc.

PV: Vậy theo giáo sư, có giải pháp nào để tránh sự trùng lặp?

TTD: Giải pháp cơ bản là ở người thầy, thầy giỏi thì không trùng lặp. Mà muốn có thầy giỏi thì phải làm nhiều điều lắm. Cùng với người thầy là quy chế và quản lý. Quy chế phải cập nhật, tiến bộ chứ không được “ì” ra.

Dạy gì thì dạy nhưng sản phẩm cuối cùng là những người tốt nghiệp. Mình có thỏa mãn người tốt nghiệp để họ giải quyết nhu cầu nghề nghiệp, nhu cầu nghiên cứu của họ hay không? Nhưng tôi cũng biết, có người học Cao học, Tiến sĩ chỉ cần bằng cấp giải quyết khâu oai, khâu chức vụ, vì hiện nay đôi khi chức vụ “ích lợi” hơn làm khoa học nhiều... Nhưng mình phải chấp nhận và tìm cách từng bước khống chế loại học viên này.

PV: Theo giáo sư làm cách nào để khống chế loại học viên này?

TTD: Là cả một vấn đề. Khi mà “quan” đang được “trọng” thì chỉ từng bước khống chế thôi. Nhưng vẫn khống chế được. Và vào thời điểm này, tôi nghĩ, chỉ có người thầy mới khống chế họ được. Khi xã hội tạo ra được cơ chế thực để người thầy “đủ điều kiện” làm thầy thì họ sẽ chủ động kiềm chế được những loại học viên này.

Bởi vì, đối với những người học thực sự thì người thầy dạy cho họ phương pháp tư duy là chính. Những người cần bằng cấp giải quyết khâu oai, khâu chức vụ thì họ ngại điều này lắm. Làm thầy thì thấy sự khác biệt này ngay. Thấy, nhưng có làm hay không là một chuyện khác. Có thầy tốt, có cơ sở đào tạo thực sự thì khống chế được.

PV: Những vướng mắc về cơ chế này do trường hay Bộ quy định?

TTD: Có một thực tế là không phải những người đào tạo thực sự làm quy chế mà thường quy chế là “nhờ” những cán bộ quản lý, cán bộ hành chính làm ra. Nhiều khi, người quản lý đã tham gia đào tạo thực sự vì “bận” nên giao toàn quyền cho cán bộ hành chính làm quy chế. Thực tế, những người này có thực quyền hơn. Vì thế có những cái lạc hậu không chịu được nữa nhưng Bộ Giáo dục-Đào tạo đến nay vẫn không thay đổi. Tôi lấy một ví dụ: trong đào tạo sinh viên vào thời điểm bây giờ mà cho điểm các môn học là “điểm chẵn theo hệ 10”. Nhiều nước đánh giá chi tiết sinh viên theo thang điểm 100, chí ít cũng theo thang điểm 20. Nhưng quy định của Bộ có từ đời nào rồi mà bây giờ chỉ cho điểm chẵn. Quá lạc hậu.

Ví dụ, trong học ngoại ngữ em này biết hơn em kia 1 từ đã là phân biệt nhau rồi, thế mà cứ cho thang 10 điểm thì làm sao? Theo thang điểm này có em sai 5 từ, có em sai 3 từ, có em sai 1 từ thì phải quy điểm như nhau thôi. Bộ có thể thay đổi được lắm chứ? Trường cũng có thể thay đổi được lắm chứ? Có gì mà không thay đổi được? Nhưng vẫn nhiều người nói rằng đó là quy chế. Họ vẫn yêu cầu kiên nhẫn “chờ”. Trong khi Nhà nước ta kêu gọi thấy cái gì lạc hậu, kìm hãm nên thay đổi ngay. Còn dân gian thì có câu nói vui: “chờ sáng trăng”!

PV: Như vậy là những người quản lý không sâu sát thực tế?

TTD: Chẳng biết nữa! Nhưng những người làm quản lý họ cũng “thông minh”, cũng “sâu sát” mới làm được cán bộ chứ. Có điều, cái thông minh ấy, cái sâu sát ấy có phục vụ cho sự phát triển hay không lại là chuyện khác.

Quy chế lạc hậu ảnh hưởng nhiều đến nội dung đào tạo, trùng lặp chỉ là một phần. Muốn khoa học phát triển thì quản lý khoa học phải có điều chỉnh, phát triển. thay đổi kịp thời.

Nhưng nói thì ai nghe, ai là người nói và ai là người phải làm? Liệu có bao nhiêu ông chủ nhiệm khoa dám góp ý với ông Hiệu trưởng? Liệu có bao nhiêu ông hiệu trưởng, hiệu phó ở trường đại học dám góp ý với ông cấp trên? Ông cấp trên hơn có sợ ông Bộ hay không lại là chuyện khác. Nhưng tôi thấy số người “dám” ít hơn rất nhiều những người “không dám” và “không định dám”.

Họp tổng kết đánh giá thì thử hỏi ông cán bộ nào được họp? Hết cuộc họp tổng kết này đến cuộc tổng kết khác nhưng có thay đổi không? Rất nhiều cuộc họp tổng kết nhưng có được bao nhiêu ông nghe và tôn trọng lời nói thật ? Cấp trên xuống trường thì thành phần nào mới được tham gia ?

Cái người nói “thật” chỉ là thiểu số và thường bị gắn mác “ngang” và “bướng”. Họ phải tính đến quyền lợi của họ chứ. Bây giờ làm quan phải có lợi, không có lợi thì...! Có bao nhiêu người không vì lợi mà làm quan?

PV: Đào tạo ĐH, Cao học là đào tạo cơ bản đến chuyên sâu. Muốn chuyên sâu phải nắm được cơ bản. Nhưng có một số giảng viên ở ĐH coi kiến thức cơ bản là a, b, c nên bỏ qua. Có thể coi đó là “rỗng ruột” kiến thức?

TTD: Chỉ có một số giảng viên thôi. Còn lại thì không phải bỏ qua mà là làm không kỹ. Đúng, đó sẽ là rỗng ruột. Ví dụ, chúng ta vẫn làm chưa nghiêm túc trong thi cử nên vẫn có thành phần bị lọt, vẫn có “sản phẩm lỗi”. Cơ sở nào làm tốt thì lượng thành phẩm tốt nhiều hơn, làm kém thì thành phẩm xấu nhiều hơn. Đó là chuyện đương nhiên.

Nhưng chúng ta còn chưa có cơ chế đánh giá thành phẩm làm ra của các cơ sở. Em là phóng viên đi nhiều, gặp nhiều, em có đảm bảo, quy chế tuyển cán bộ hay quy chế cho phép các cơ sở đào tạo ĐH được đào tạo sau đại học chẳng hạn đã thực sự khách quan, có chất lượng không ? Ngay cả khi cơ chế đã hoàn chỉnh mà con người thực hiện không hoàn chỉnh thì cũng đành chịu!

PV: Xin cảm ơn Giáo sư!


URL của bài viết này::http://www.schoolnet.vn/modules.php?name=News&file=article&sid=1580

© Cong ty Cong Nghe Tin hoc Nha truong contact: sales@schoolnet.vn