Cong ty Cong Nghe Tin hoc Nha truong http://www.schoolnet.vn

Chỉ tiêu 20.000 tiến sĩ là quá lớn!
12/02/2008

Dự kiến, quy chế đào tạo tiến sĩ sẽ được ban hành trong tháng 1/2008, nhưng một số điểm mới trong dự thảo còn gây nhiều tranh cãi. Liệu mục tiêu đào tạo 20.000 tiến sĩ đến năm 2020 của Bộ GD-ĐT có trở thành hiện thực và chất lượng tiến sĩ có được nâng lên như mong muốn? GS Lâm Quang Thiệp đã trao đổi với chúng tôi về vấn đề này.

Cần quy chế "mềm"

- Một trong những điểm mới của dự thảo quy chế đào tạo tiến sĩ là bỏ thi đầu vào và thay thế bằng hình thức phỏng vấn, GS nghĩa sao về điều này?

- Thực tế, thời gian qua, việc thi tuyển đầu vào có chất lượng rất kém, vì các kỳ thi ấy chẳng khác gì với thi tuyển sinh đại học. Trong khi, đây phải là kỳ thi tuyển chọn nhân tài. Vì vậy, cần phải cải tiến cách tuyển đào tạo tiến sĩ, thay thế kiểu thi dựa vào việc học thuộc lòng như hiện nay.

Hình thức phỏng vấn chiếm nhiều ưu thế, vì qua đó, người chấm thi có thể biết được vốn kiến thức của người thi. Tuy nhiên, nên có một kỳ thi kiểm tra năng lực tư duy chung trước khi vấn đáp, giống như GRE của Mỹ mặc dù thiết kế các đề thi kiểu này cũng không đơn giản, cần có thời gian.

- Việc làm luận án tiến sĩ gắn liền với trách nhiệm của người hướng dẫn. Có nhất thiết là người hướng dẫn phải đúng chuyên ngành với nghiên cứu sinh không, thưa GS?

- Theo tôi, không nên nhìn nhận cứng nhắc như thế. Bởi ở Việt Nam, có nhiều ngành khoa học chưa phát triển, vậy thì lấy đâu ra người hướng dẫn các chuyên ngành đó. Cách nhìn nhận này sẽ làm hạn chế sự phát triển các ngành khoa học có tính liên ngành ở nước ta. Vì vậy, cần có một quy chế hợp lý đối với người hướng dẫn nghiên cứu sinh.

- Quy chế hợp lý ấy cần được hiểu như thế nào?

- Để đảm bảo người hướng dẫn có năng lực chuyên môn đủ sâu để hướng dẫn NCS, đồng thời cũng công nhận một xu hướng thực tế trong khoa học về việc thay đổi lĩnh vực nghiên cứu của những người có trình độ cao, đặc biệt đối với các ngành và chuyên ngành chưa có ở nước ta, tôi đề nghị qui định tách thành 2 đối tượng:

Một là, các tiến sĩ có thâm niên 3 năm phải là tiến sĩ theo đúng ngành đào tạo của nghiên cứu sinh mới được hướng dẫn.

Đối tượng thứ hai là các GS có thâm niên 2 năm và PGS có thâm niên 5 năm có bằng tiến sĩ khác ngành đào tạo của nghiên cứu sinh cũng có quyền hướng dẫn nghiên cứu sinh, nếu người đó đã có ít nhất 10 công trình nghiên cứu thuộc ngành đào tạo của nghiên cứu sinh được công bố.

Trách nhiệm tập thể hay chẳng ai chịu trách nhiệm?

- Việc chấm luận án tiến sĩ hiện nay được thực hiện theo hình thức hội đồng tập thể. Đánh giá của GS về cách làm này?

- Các thủ tục bảo vệ ở cấp bộ môn có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, thủ tục bảo vệ chính thức ở cấp trường với cơ chế về "phản biện độc lập" cộng với hội đồng bảo vệ cấp trường là khá rắc rối mà không có tác dụng nâng cao chất lượng việc chấm luận án.

Thực tế trong những năm qua cho thấy việc “chịu trách nhiệm tập thể” của Hội đồng là một trong những nguyên nhân chính làm giảm chất lượng công nhận tiến sĩ, trong Hội đồng đa số thành viên không hiểu sâu về luận án mà vẫn có quyền đánh giá, đồng thời họ không phải chịu trách nhiệm cá nhân nào rõ ràng nào cả về lá phiếu của mình, họ thường có tâm lý “cho qua” để khỏi rắc rối và mếch lòng.

Việc chấm luận án cần phải có sự thay đổi theo hướng đề cao trách nhiệm cá nhân để việc đánh giá tiến sĩ thật sự có chất lượng. Nên bỏ cách chấm theo kiểu hội đồng “chịu trách nhiệm tập thể” để rồi chẳng có ai thật sự chịu trách nhiệm cả.

- Theo GS, quá trình đào tạo tiến sĩ như hiện nay có cần phải thay đổi không?

- Lâu nay, tôi tìm hiểu các trường ĐH thì thấy chủ yếu việc quản lý và đào tạo tiến sĩ theo kiểu tại chức. Nghiên cứu sinh không sinh hoạt gì ở các bộ môn, không tham gia hoạt động trợ giảng, nghiên cứu, một năm đến bộ môn một vài lần khi có việc. Vậy mà họ vẫn bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Kiểu quản lý lỏng lẻo này không thể đảm bảo chất lượng đào tạo tiến sĩ trong các nhà trường.

Có thể có một số bộ phận được đào tạo theo kiểu tại chức, đó là những người đã có bề dày nghiên cứu, có thể làm việc cá nhân. Còn với các nghiên cứu sinh chưa đủ điều kiện này thì phải đào tạo theo hình thức tập trung. Họ phải gắn với bộ môn để có thể học hỏi ở các giáo sư và cộng đồng khoa học.

- Nhiều trường lo ngại sẽ không đảm bảo được chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ bởi yếu tố ngoại ngữ. Họ cho rằng nên vừa đào tạo chương trình tiến sĩ vừa bồi đắp trình độ ngoại ngữ cho nghiên cứu sinh, chứ không nên qui định cứng nhắc trình độ tiếng Anh tuyển đầu vào phải đạt điểm TOEFL 450 hoặc IELTS 5.0. GS nhìn nhận thế nào về điều này?

- Yêu cầu ngoại ngữ với nghiên cứu sinh là rất quan trọng. Bởi một nghiên cứu sinh mà không đủ trình độ ngoại ngữ để đọc tài liệu nước ngoài thì không thể làm được gì cho bản luận án của mình. Đấy là chưa kể, chúng ta đang phấn đấu đào tạo tiến sĩ ngang tầm quốc tế thì ngoại ngữ không thể xem nhẹ.

Thời gian tới, Bộ GD-ĐT yêu cầu nâng cao hơn trình độ ngoại ngữ của NCS, điều này có thể khiến chỉ tiêu đào tạo 20.000 tiến sĩ đến năm 2020 không thực hiện được. Nhưng việc đào tạo tiến sĩ quan trọng nhất là chất lượng, không nên ồ ạt, chạy theo chỉ tiêu. Chỉ tiêu 20.000 tiến sĩ quá lớn, đòi hỏi phải có sự đầu tư thực sự. Các trường cần xoá quan niệm đào tạo theo nhu cầu bằng cấp chứ không theo nhu cầu chất lượng.

- Xin cảm ơn GS!


URL của bài viết này::http://www.schoolnet.vn/modules.php?name=News&file=article&sid=1810

© Cong ty Cong Nghe Tin hoc Nha truong contact: sales@schoolnet.vn