Hotline: 024.62511017

024.62511081

  Trang chủ   Sản phẩm   Phần mềm Dành cho nhà trường   Phần mềm Hỗ trợ học tập   Kho phần mềm   Liên hệ   Đăng nhập | Đăng ký

Tìm kiếm

School@net
 
Xem bài viết theo các chủ đề hiện có
  • Hoạt động của công ty (728 bài viết)
  • Hỗ trợ khách hàng (494 bài viết)
  • Thông tin tuyển dụng (57 bài viết)
  • Thông tin khuyến mại (81 bài viết)
  • Sản phẩm mới (218 bài viết)
  • Dành cho Giáo viên (552 bài viết)
  • Lập trình Scratch (3 bài viết)
  • Mô hình & Giải pháp (155 bài viết)
  • IQB và mô hình Ngân hàng đề kiểm tra (126 bài viết)
  • TKB và bài toán xếp Thời khóa biểu (242 bài viết)
  • Học tiếng Việt (182 bài viết)
  • Download - Archive- Update (289 bài viết)
  • Các Website hữu ích (71 bài viết)
  • Cùng Học (98 bài viết)
  • Learning Math: Tin học hỗ trợ học Toán trong nhà trường (74 bài viết)
  • School@net 15 năm (153 bài viết)
  • Mỗi ngày một phần mềm (7 bài viết)
  • Dành cho cha mẹ học sinh (123 bài viết)
  • Khám phá phần mềm (122 bài viết)
  • GeoMath: Giải pháp hỗ trợ học dạy môn Toán trong trường phổ thông (36 bài viết)
  • Phần mềm cho em (13 bài viết)
  • ĐỐ VUI - THƯ GIÃN (360 bài viết)
  • Các vấn đề giáo dục (1209 bài viết)
  • Bài học trực tuyến (1033 bài viết)
  • Hoàng Sa - Trường Sa (17 bài viết)
  • Vui học đường (276 bài viết)
  • Tin học và Toán học (220 bài viết)
  • Truyện cổ tích - Truyện thiếu nhi (181 bài viết)
  • Việt Nam - 4000 năm lịch sử (97 bài viết)
  • Xem toàn bộ bài viết (8222 bài viết)
  •  
    Đăng nhập/Đăng ký
    Bí danh
    Mật khẩu
    Mã kiểm traMã kiểm tra
    Lặp lại mã kiểm tra
    Ghi nhớ
     
    Quên mật khẩu | Đăng ký mới
    
     
    Giỏ hàng

    Xem giỏ hàng


    Giỏ hàng chưa có sản phẩm

     
    Bản đồ lưu lượng truy cập website
    Locations of visitors to this page
     
    Thành viên có mặt
    Khách: 7
    Thành viên: 0
    Tổng cộng: 7
     
    Số người truy cập
    Hiện đã có 83869566 lượt người đến thăm trang Web của chúng tôi.

    Bằng tiến sĩ - Câu chuyện của ĐH Mỹ và VN

    Ngày gửi bài: 21/06/2007
    Số lượt đọc: 2828

    Giáo sư toán học Vũ Quốc Phóng, Trường ĐH Ohio tại Mỹ gửi tới báo chí các bài viết cho hai vấn đề đang là thời sự của giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay, đào tạo tiến sĩ và mở ĐH tư thục.
    Trong khuôn khổ một số bài viết ngắn, tản mạn, tôi muốn trao đổi với các đồng nghiệp và bạn đọc về một số vấn đề về giáo dục ĐH đang được quan tâm nhiều.

    Tôi sẽ kể về một số điều tôi quan sát thấy về giảng dạy, nghiên cứu và quản lý ở các trường ĐH Mỹ, và liên hệ với điều kiện ở Việt Nam để đưa ra các nhận xét về việc có thể áp dụng những điều đó ở Việt Nam hay không; và nếu có thì với mức độ hoặc sự điều chỉnh như thế nào.
    Với cách đặt vấn đề như thế, giáo sư toán học Vũ Quốc Phóng, Trường ĐH Ohio, Mỹ gửi tới báo chí các bài viết cho hai vấn đề đang là thời sự của giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay, đào tạo tiến sĩ và mở ĐH tư thục.
    Dưới đây là các bài viết này.

    Phần 1. Đào tạo tiến sĩ: Bằng tiến sĩ cũng linh động


    Ở Mỹ, các trường ĐH nói chung được chia ra làm hai loại, ĐH nghiên cứu và ĐH đào tạo (là chủ yếu).
    Nói chung, trường nào có các chương trình đào tạo tiến sỹ thì được gọi là trường ĐH nghiên cứu.
    Hiện nay, phần lớn các trường ĐH ở Mỹ, kể cả các trường ĐH đào tạo, khi tuyển các chức vụ giáo sư để trở thành chính thức (tenure-track), đều yêu cầu ứng viên phải có bằng cuối cùng trong lĩnh vực mình (terminal degree, thường là PhD, D.Eng., Ed.D., M.D.,v.v… ) thì mới xét.
    Ở các trường ĐH đào tạo, việc giảng dạy được xem trọng nhất, nhưng nghiên cứu khoa học và các hoạt động sáng tạo khác đóng vai trò quan trọng khi xét để trở thành chính thức (tenure) và khi xét thăng bậc (promotion).
    Còn ở các trường ĐH nghiên cứu, thì kết quả nghiên cứu khoa học, thể hiện chủ yếu là qua các bài báo được công bố ở các tập chí ngành và các báo cáo mời ở các hội nghị lớn, đóng vai trò rất quan trọng, hầu như quyết định, đối với việc trở thành giáo sư chính thức và để thăng bậc.
    Những ngoại lệ thú vị
    Tuy vậy, không phải 100% GS ở tất cả các trường, kể cả các trường ĐH nghiên cứu, đều có bằng tiến sỹ.
    Nếu trong một lĩnh vực nào đó (thường là về kỹ thuật hoặc quản trị kinh doanh) mà số tiến sỹ không đủ, thì đôi khi trường phải chấp nhận thuê một người chỉ mới có bằng thạc sỹ.
    Trong nhiều trường hợp (nhưng không phải tất cả), trường yêu cầu người đó trong thời gian thử thách (thường là năm đến sáu năm) phải lấy được bằng tiến sỹ.
    Việc không có quy định chặt chẽ bất di bất dịch nào cho phép các trường được mềm dẻo linh hoạt trong việc chọn người.
    Nhiều chính khách, nhà ngoại giao, văn nghệ sỹ, các nhà báo kỳ cựu, các giám đốc các công ty lớn, có kiến thức sâu rộng và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực của mình, nhưng không có bằng tiến sỹ.
    Các trường ĐH lớn rất thích mời những người này làm GS. SV cũng thích những người này giảng dạy, vì các bài giảng của họ thường lý thú và sinh động.
    Nếu cứ phải có bằng tiến sỹ mới được làm GS ĐH thì cửa vào ĐH sẽ không mở đối với họ.
    Một số trường hợp, thậm chí có thể không có bằng tiến sỹ mà vẫn được làm hiệu trưởng ĐH, kể cả của các trường rất lớn và tiếng tăm.
    Ông Joe B. Wyatt không có bằng tiến sỹ, và làm hiệu trưởng Trường ĐH Vanderbilt trong 18 năm, từ 1982 đến 2000.
    Người ta đánh giá rất cao những thành công xuất sắc của ông trong việc đưa Vanderbilt thành một trường ĐH lớn của Mỹ và quyên được rất nhiều tiền cho trường.
    Trong những năm đó, ông cũng nổi tiếng là hiệu trưởng có lương cao nhất của nước Mỹ (hơn 500.000 USD/năm vào thời bấy giờ).
    Bằng tiến sĩ: Yêu cầu tối thiểu
    Ví dụ trên là một trong những ngoại lệ. Chúng không làm suy giảm tầm quan trọng của bằng tiến sỹ, hoặc trình độ tương đương, đối với giảng viên ĐH.
    Nói chung, bằng tiến sỹ chỉ là yêu cầu tối thiểu mà thôi. Trừ một số trường hợp đặc biệt (lại trường hợp đặc biệt), còn hầu hết các GS mới được nhận vào đều phải qua thời hạn thử thách năm hoặc sáu năm (có thể ít hơn hoặc miễn đối với những người đã qua các chức vụ GS ở các trường khác tương đương, hoặc những người có thành tích quá nổi bật để chứng minh cho khả năng của mình).
    Đối với các trường ĐH nghiên cứu, thử thách chủ yếu là xem người đó có thể nghiên cứu độc lập với kết quả tốt hoặc xuất sắc hay không?
    Để tạo điều kiện cho họ thể hiện mình, các trường hay có những chính sách ưu tiên cho những GS mới vào như phân công dạy ít hơn và cấp nhiều tiền hơn để phục vụ nghiên cứu (mua trang thiết bị, dùng để đi dự hội nghị).
    Trong thời gian thử thách này, nếu người đó không có đủ các bài báo đăng ở các tạp chí chuyên ngành có uy tín thì rất dễ không được trở thành GS chính thức (và sẽ bị thôi việc).
    Bài toán lớn
    Ở Việt Nam, số lượng cán bộ giảng dạy ĐH có bằng tiến sỹ quá ít (khoảng 13%).
    Trong số đó, tỷ lệ những người vẫn còn thường xuyên nghiên cứu khoa học rất bé.
    Thêm vào đó, đại bộ phận những người này lại sống ở Hà Nội hoặc TP.HCM.
    Vì thế, khi các tỉnh nối đuôi nhau mở ĐH -điều theo tôi cần thiết và nên khuyến khích - thì một trong những bài toán khó nhất phải giải là lấy đâu ra số lượng giáo viên có trình độ và bằng cấp cần thiết.
    Bạn tôi là giáo sư toán ở Đà Nẵng nói rằng, cả thành phố Đà Nẵng chỉ có khoảng trên dưới 10 người có bằng tiến sỹ toán và đa số họ không có điều kiện để tiếp tục nghiên cứu toán học, kể từ khi bảo vệ luận án, bởi vì họ phải dạy trung bình khoảng 40 giờ/tuần.
    Nói chung, ngành toán có thể xem như một trong những ngành Việt Nam tương đối phát triển so với các ngành khác.
    Đà Nẵng là thành phố có xấp xỉ một triệu dân, là trung tâm kinh tế của miền Trung rộng lớn, nơi hiện nay đã có nhiều trường ĐH và trong tương lai sẽ mở thêm nhiều trường nữa.
    Từ đó có thể suy ra tình hình thiếu cán bộ giảng dạy trong các ngành khác và các địa phương khác như thế nào.
    Có lẽ điều này là bức xúc của nhiều người trong ngành giáo dục ở Việt Nam, thể hiện trong quyết tâm đào tạo 20.000 tiến sỹ từ nay đến năm 2015 của Bộ trưởng. Đây là một bài toán lớn của ngành giáo dục đại học.

    Phần 2: Tiến sĩ không phải tiêu chí tối thượng


    Khuyến khích chất lượng

    Yêu cầu tăng tỷ lệ giảng viên có bằng tiến sỹ ở ĐH VN là cần thiết. Những người có kiến thức thực sự cần phải chứng tỏ mình một cách nào đó: Thông qua lấy bằng tiến sỹ, qua việc công bố nhiều công trình khoa học trên các tạp chí uy tín, hoặc cả hai.
    Song song với đào tạo tiến sỹ, một vấn đề không kém quan trọng là làm gì để các giảng viên đã có bằng tiến sỹ có thể tiếp tục nghiên cứu khoa học hiệu quả.
    Đề ra một mục tiêu cụ thể, ví dụ như đào tạo được bao nhiêu tiến sỹ trong từng năm, là một phương hướng để vươn tới.
    Nhưng không cần quy định một tỷ lệ cứng nhắc mà nếu các trường không đạt được thì sẽ phải giải tán trường hoặc không được thành lập.
    Chỉ cần có chính sách chung, và có các hình thức khuyến khích (ví dụ như tăng kinh phí) cho những trường thực hiện tốt các chính sách đó.
    Tôi xin nêu một ví dụ về các biện pháp để khuyến khích chất lượng.
    Ở bang Ohio, cũng như tất cả các bang khác của Mỹ, các trường ĐH công lập được chính phủ bang cho một khoản tiền hàng năm, khoảng từ 30% đến 40% ngân sách trường.
    Nhưng không phải chia bình quân, mà chia theo một công thức khá phức tạp có tính đến các thành tích của trường.
    Trường có chương trình tiến sỹ, thạc sỹ, thì sẽ được chia nhiều hơn trường không có (nếu các điều khoản khác ngang nhau).
    Những tham số khác ảnh hưởng trực tiếp đến mức tài trợ của bang là thành tích nghiên cứu khoa học, tỷ lệ SV tốt nghiệp (phần trăm SV tốt nghiệp sau bốn đến sáu năm), tỷ lệ SV ở lại (phần trăm SV vẫn tiếp tục ở lại trường, tức không chuyển đến trường khác, sau năm thứ nhất), v.v…
    Công thức này cũng không cứng nhắc, nhưng thường là sự xê dịch không quá nhiều.
    Tuy không cần thiết phải đề ra một tiêu chuẩn bắt buộc về tỷ lệ giáo viên có bằng tiến sỹ, việc đề ra một mục tiêu cụ thể để các trường, các khoa và các giáo sư phấn đấu thực hiện là có ích.
    Con số cụ thể: Phải có chứng minh đi kèm
    Những con số cụ thể cần phải được đi kèm với một bản chứng minh về các phương pháp để thực hiện.
    Giáo dục là lĩnh vực mà các thay đổi xảy ra chậm. Muốn đào tạo được một tiến sỹ, thường phải mất bốn năm nếu người đó đã có bằng thạc sỹ hoặc sáu năm nếu chỉ mới có bằng cử nhân, chưa kể thời gian tuyển chọn.
    Ngoài ra, có một tỷ lệ nào đó sẽ không bao giờ tốt nghiệp được.
    Sẽ không có phép màu nhiệm nào để có thể tạo ra những thay đổi đột biến.
    Những chỉ tiêu đặt ra do những mong muốn tốt đẹp sẽ không thể thực hiện nổi, hoặc sẽ dẫn đến tình trạng phải thỏa hiệp về chất lượng.
    Hiện nay, chất lượng của các luận án tiến sỹ ở trong nước nói chung đang rất thấp. Vì thế, mọi kế hoạch đào tạo tiến sỹ phải chú trọng chất lượng.
    Tuy nhiên, trong lĩnh vực này không nên quá cầu toàn. Điều cần thiết là phải làm sao để quá trình đào tạo tiến sỹ được tiến hành nghiêm túc, từ khâu tuyển đầu vào, đến khâu chọn đề tài, chọn thầy, đến quá trình nghiên cứu và bảo vệ luận án.
    Điều gì có thể châm chước
    Có thể châm chước một chút về mức độ, về số lượng hoặc chất lượng các bài báo, nhưng một số nguyên tắc như SV phải học và thi các môn tối thiểu đạt kết quả tốt, phải độc lập trong nghiên cứu, trung thực trong việc sử dụng các số liệu và trích dẫn của người khác thì không nên châm chước.
    Để cho việc bảo vệ luận án được khách quan, cũng nên bỏ hoàn toàn tục lệ biếu tiền thầy và thành viên hội đồng trong các buổi bảo vệ.
    Đồng nghiệp của tôi kể lại rằng hiện nay hiện tượng đó đã giảm nhiều so với trước đây.
    Họ không muốn nhận những phong bì đó nhưng rất khó từ chối, nhất là nhiều khi không phân biệt được ranh giới giữa những món quà tình cảm và hối lộ.
    Một GS, đang làm hiệu trưởng một trường ĐH, tâm sự: “Nhiều khi thấy luận án rất kém, nhưng cũng đành phải cho qua, bởi vì người ta đã bỏ công đi theo nó năm, sáu năm trời rồi, bây giờ nếu đánh trượt họ thì cũng tội”.
    Nói về chất lượng và sự trung thực, thì ở bất kỳ đâu, kể cả Mỹ, cũng có nhiều luận án có chất lượng rất thấp và nhiều trường hợp quay cóp.
    Ở Mỹ, không có chuyện hối lộ hoặc đưa phong bì, nhưng hiện tượng tôi dễ với học trò của ông để lần sau ông dễ lại với học trò của tôi thì vẫn có.
    Tôi chưa thấy trường hợp cụ thể nào bị nêu ra vì chất lượng kém.
    Phàn nàn chung chung rằng luận án của nơi này, nơi kia, kém chất lượng, hoặc nói rằng kết quả này kia trong luận án không đúng, thì có, nhưng nói một luận án nào đó là kém thì rất hiếm, tôi chưa nghe thấy bao giờ.
    Phát hiện tiêu cực: Xử lý nghiêm
    Nhưng với những vụ không trung thực mà bị phát hiện, các trường thường xử rất nghiêm.
    Cách đây khoảng hai năm, trường ĐH Ohio, nơi tôi làm việc, cũng xảy ra chuyện có một SV tố cáo hiện tượng sao chép phổ biến ở nhiều luận án, chủ yếu là luận án thạc sỹ, của khoa cơ khí, kéo dài trong khoảng 20 năm, do hai giáo sư trong khoa hướng dẫn.
    Phần lớn các đoạn sao chép là ở chương mở đầu, hoặc do trích dẫn các tác giả khác không chu đáo, và đa số liên quan đến SV ngoại quốc.
    Việc sao chép như vậy tồn tại ở nhiều trường và nhiều khoa, chẳng qua là chưa bị phát hiện.
    Trường ĐH Ohio đã rất nghiêm túc khi xét xử vụ này. Một trong hai giáo sư đó, đồng thời là trưởng khoa, bị thôi chức và người kia thì bị mất việc.
    Khoảng 40 SV đã tốt nghiệp phải tường trình trước một hội đồng chuyên môn, trong số đó bảy người được cho vô tội; khoảng một nửa trong số còn lại bị mất bằng và nửa kia phải viết và bảo vệ lại luận án.
    Điều đáng nói là trường đã không những không bao che, mà còn lập ra nhiều ban điều tra để tìm ra cặn kẽ hơn các sự việc và đã biến sự kiện tiêu cực này thành một cơ hội tốt hiếm có để giáo dục cho giáo sư và sinh viên của trường về sự trung thực trong khoa học, cũng như những quy định cụ thể về sao chép, trích dẫn, v.v...
    Có thể nói, uy tín của trường không hề giảm đi mà còn tăng lên sau khi xảy ra sự cố đó (có thể đưa dẫn chứng là năm nay, cho đến thời điểm giữa tháng 1/2007, số học sinh nộp đơn xin vào trường đạt cao kỷ lục).
    Cần nhiều tiêu chí ngoài tiến sĩ
    Tôi xin nhắc lại là trong điều kiện hiện nay, không nên quá tuyệt đối về chất lượng của các luận án tiến sỹ bảo vệ trong nước; nhưng đi đôi với việc này là phải xem việc bảo vệ luận án tiến sỹ chỉ là bước đi đầu tiên vào khoa học mà thôi.
    Cái hệ hai bằng trước kia, tuy cồng kềnh và không hiệu quả lắm nên đã bị bỏ, cũng có một số điểm ưu việt.
    Danh từ phó tiến sỹ, dịch từ từ tiếng Nga là “kandidat”, có nghĩa là dự bị, ứng viên, nói lên là người có bằng đó chỉ mới ở giai đoạn dự bị trên con đường khoa học thôi (bằng “kandidat” của Liên Xô cũ tương đương với bằng tiến sỹ ở Việt Nam hay bằng PhD ở Mỹ).
    Ở Mỹ và phần lớn các nước phương Tây, chỉ có một bằng tiến sỹ.
    Những người ở ngoài các trường ĐH thì không hiểu lắm về thực chất của nó (ngoài việc nó hay được treo trang trí trong các phòng khách của các gia đình hoặc trong các văn phòng của bác sỹ, luật sư).
    Còn người trong ĐH thì biết là nó chỉ có tác dụng cho phép gửi hồ sơ xin việc (và được xem xét) thôi.
    Có được việc hay không là do chất lượng và số lượng của các bài báo khoa học.
    Tuy nhiên cũng có ngoại lệ. Thậm chí ,có người mua được các bằng tiến sỹ ở các lò sản xuất bằng và dùng bằng đó tìm được việc.
    Những trường hợp như thế rất ít và chỉ xảy ra ở những trường bé, không có chất lượng.
    Việc đào tạo tiến sỹ cũng phụ thuộc vào từng ngành. Có một số ngành rất khó nghiên cứu, hoặc thậm chí không thể làm nghiên cứu (có chất lượng) được nếu không có kinh phí thật lớn để mua trang thiết bị và làm thực nghiệm, trong khi một số ngành khác chỉ cần có thông tin qua sách, tạp chí và Internet, và một số chi phí vừa phải để đi lại, trao đổi, v.v...
    Vì thế, mức chi phí để đào tạo rất khác nhau. Trong lúc điều kiện của các trường ĐH trong nước chưa cho phép mở rộng đào tạo ở các ngành đắt tiền thì không thể yêu cầu các trường, nhất là trường ở tỉnh, có thể có tỷ lệ tiến sỹ cao về các ngành đó như các trường quốc gia ở Hà Nội và TP.HCM.
    Mục đích cuối cùng vẫn là làm sao để dạy, học và nghiên cứu khoa học tốt hơn, chứ không phải là tỷ lệ tiến sỹ.
    Hãy đưa ra nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá chất lượng của một trường ĐH, như số lượng các công trình nghiên cứu được công bố, các ứng dụng trong thực tế, tỷ lệ SV tốt nghiệp tìm được việc làm hoặc học thêm cao học nhưng không cần một yêu cầu cứng nhắc nào.
    nguồn: http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/02/661295/

    GS Vũ Quốc Phóng (Theo VNN)



     Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


    Những bài viết khác:



    Lên đầu trang

     
    CÔNG TY CÔNG NGHỆ TIN HỌC NHÀ TRƯỜNG
     
    Phòng 804 - Nhà 17T1 - Khu Trung Hoà Nhân Chính - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
    Phone: 024.62511017 - 024.62511081
    Email: kinhdoanh@schoolnet.vn


    Bản quyền thông tin trên trang điện tử này thuộc về công ty School@net
    Ghi rõ nguồn www.vnschool.net khi bạn phát hành lại thông tin từ website này
    Site xây dựng trên cơ sở hệ thống NukeViet - phát triển từ PHP-Nuke, lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL.