Hotline: 024.62511017

024.62511081

  Trang chủ   Sản phẩm   Phần mềm Dành cho nhà trường   Phần mềm Hỗ trợ học tập   Kho phần mềm   Liên hệ   Đăng nhập | Đăng ký

Tìm kiếm

School@net
 
Xem bài viết theo các chủ đề hiện có
  • Hoạt động của công ty (728 bài viết)
  • Hỗ trợ khách hàng (494 bài viết)
  • Thông tin tuyển dụng (57 bài viết)
  • Thông tin khuyến mại (81 bài viết)
  • Sản phẩm mới (218 bài viết)
  • Dành cho Giáo viên (552 bài viết)
  • Lập trình Scratch (3 bài viết)
  • Mô hình & Giải pháp (155 bài viết)
  • IQB và mô hình Ngân hàng đề kiểm tra (126 bài viết)
  • TKB và bài toán xếp Thời khóa biểu (242 bài viết)
  • Học tiếng Việt (182 bài viết)
  • Download - Archive- Update (289 bài viết)
  • Các Website hữu ích (71 bài viết)
  • Cùng Học (98 bài viết)
  • Learning Math: Tin học hỗ trợ học Toán trong nhà trường (74 bài viết)
  • School@net 15 năm (153 bài viết)
  • Mỗi ngày một phần mềm (7 bài viết)
  • Dành cho cha mẹ học sinh (123 bài viết)
  • Khám phá phần mềm (122 bài viết)
  • GeoMath: Giải pháp hỗ trợ học dạy môn Toán trong trường phổ thông (36 bài viết)
  • Phần mềm cho em (13 bài viết)
  • ĐỐ VUI - THƯ GIÃN (360 bài viết)
  • Các vấn đề giáo dục (1209 bài viết)
  • Bài học trực tuyến (1033 bài viết)
  • Hoàng Sa - Trường Sa (17 bài viết)
  • Vui học đường (276 bài viết)
  • Tin học và Toán học (220 bài viết)
  • Truyện cổ tích - Truyện thiếu nhi (181 bài viết)
  • Việt Nam - 4000 năm lịch sử (97 bài viết)
  • Xem toàn bộ bài viết (8222 bài viết)
  •  
    Đăng nhập/Đăng ký
    Bí danh
    Mật khẩu
    Mã kiểm traMã kiểm tra
    Lặp lại mã kiểm tra
    Ghi nhớ
     
    Quên mật khẩu | Đăng ký mới
    
     
    Giỏ hàng

    Xem giỏ hàng


    Giỏ hàng chưa có sản phẩm

     
    Bản đồ lưu lượng truy cập website
    Locations of visitors to this page
     
    Thành viên có mặt
    Khách: 6
    Thành viên: 0
    Tổng cộng: 6
     
    Số người truy cập
    Hiện đã có 83821740 lượt người đến thăm trang Web của chúng tôi.

    Vài suy nghĩ và ý kiến đóng góp về đào tạo ở Việt Nam trong tình hình kinh tế hiện nay

    Ngày gửi bài: 19/07/2007
    Số lượt đọc: 2753

    Lê Văn Cường
    Giám đốc Nghiên cứu Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp
    Giáo sư ở Trung tâm CORE, Đại học Louvain


    Hệ thống đào tạo (giáo dục nghiên cứu) ở Việt nam hiện nay đang bị “khủng hoảng”. Đã có rất nhiều phát biểu phê bình, đề nghị thay đổi. Mục đích của bài sau đây là đóng góp vài suy nghĩ, từ vị trí của một Việt kiều ở Pháp nghiên cứu về kinh tế, nhằm góp phần phát triển tiềm năng trí tuệ của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.


    Trước hết, có thể nói khủng hoảng về giáo dục, đào tạo ở Việt nam là một quá trình khó tránh khỏi. Trước 1975, dân số hai miền ở Việt nam là khoảng 50 triệu người. Miền Bắc, với 25 triệu dân, với sự giúp đỡ của khối XHCN (qua hình thức du học, viện trợ…) đã xây dựng tốt một hệ thống giáo dục, nghiên cứu. Hơn 25 năm sau, dân số Việt nam đã trở thành 80 triệu. GDP đầu người ở Việt nam, từ 1980 đến 2000, tăng khoảng 35% một năm ( 200 USD năm 1980, 400 USD năm 2000 ). Với một nhịp tăng GDP như vậy (chưa nói đến những năm kinh tế bị trì trệ), ngân sách nhà nước khó lòng giải quyết thỏa đáng nhu cầu về đào tạo của người dân. Ở Hàn quốc, trong những năm 60, vào thời kỳ sơ khai của quá trình cất cánh kinh tế, 80% chi phí về giáo dục là do xã hội công dân Hàn quốc trang trải. Hiện nay, ở Việt nam cũng đã hình thành rất nhiều trường dân lập. Theo tôi, nên đẩy mạnh hơn nữa sự hình thành của các trường dân lập nhưng cần suy nghĩ kỹ một số phương thức sau:
    1. Ở cấp tiểu học, trung học, song song với việc mở rộng hệ thống trường dân lập, nhà nước nên tập trung vào một số định hướng về chuyên ngành, trong khuôn khổ khả năng tài chính của mình. Các trường dân lập phải tự trang trải, đặc biệt về thu nhập của các giáo viên. Các giáo viên được giữ biên chế nhà nước nhưng sẽ ngưng lãnh lương nhà nước nếu họ chuyển qua hệ thống dân lập. Thu nhập của họ (trong giảng dậy) sẽ do các trường dân lập gánh chịu. Như vậy nhà nước sẽ thu hồi lại một lượng tiền để tăng lương cho những giáo viên ở lại trong hệ thống nhà nước. Tuy nhiên các giáo viên ở các trường dân lập được quyền trở lại hệ thống nhà nước và phục hồi thu nhập tõ hệ thống nhà nước nếu họ muốn.
    Các trường dân lập và công lập sẽ cạnh tranh với nhau về chất lượng qua số học sinh thi đỗ phổ thông, thi đỗ vào các trường đại học (với điều kiện là các cuộc thi được bảo đảm là đàng hoàng, công minh). Một vai trò của nhà nước là buộc các hiệu trưởng các trường, công lập cũng như dân lập, phải nghiêm chỉnh chấp hành các chỉ tiêu về giáo dục (nội dung giáo trình, các giáo viên phải dậy hết ở trường giáo trình trong năm…).
    2. Ở cấp Đại học, cũng nên “rà” lại toàn hệ thống. Nhà nước, có lẽ cũng chỉ nên tập trung xây dựng một số trường để đạt chất lượng cao (chất lượng cao không chỉ có nghĩa là tiến sĩ, giáo sư, mà là còn kỹ sư giỏi, kỹ thuật viên giỏi, cán bộ ngân hàng, quản lý xí nghiệp giỏi…. Nếu mở rộng hệ thống dân lập ở cấp Đại học, tôi đề nghị cũng nên có những ràng buộc như ở cấp Tiểu học, Trung học.
    Một vấn đề sẽ đặt ra: chất lượng của các bằng đại học, các luận án tiến sĩ của các trường đại học sẽ được đo lường như thế nào? Theo ý tôi, lúc tuyển giáo sư, phải có một hội đồng gồm những nhà khoa học do nhà nước chỉ định, và một số được các đồng nghiệp bầu, để đánh giá các “thí sinh”. Sau quá trình nghiên cứu giảng dậy, ta có thể biết được thầy nào giỏi, thầy nào dở. Từ đó, sẽ biết trường nào tốt, trường nào không tốt. Ở các cơ quan khác, quá trình này cũng sẽ xẩy ra. Nhưng phải có một thời gian mới đưa đến một sự đánh giá đàng hoàng về chất lượng các trường. Nhà nước cũng nên thành lập những hội đồng đi đánh giá các trường đại học (về công tác đào tạo, nghiên cứu…). Kết quả phải được công bố minh bạch.
    3. Trong nước, cũng có người đề cập đến việc xây dựng một số trường đại học quốc tế; mục đích là để đào tạo một tầng lớp trí thức ưu tú. Tôi ủng hộ ý kiến này vì những lý do sau đây. Tầng lớp này có thể đào tạo trở lại các cán bộ giảng dậy nghiên cứu ở Việt nam. Ngoài ra, những đại học quốc tế có thể đào tạo tầng lớp trí thức của các nước khác trong vùng và nếu thành công hơn nữa, của các nước phương tây. Giao lưu trí tuệ ở các trường này có thể có tầm quan trọng trong quan hệ đối ngoại giữa Việt nam và bên ngoài. Giáo viên của các trường đại học này là giáo viên GIỎI được tuyển vào (qua CV). Họ có thể là người Việt nam, nhưng cũng có thể là người Việt kiều, hoặc người nước ngoài.
    4. Làm thế nào để xây dựng tốt hơn (hay tốt trở lại) hệ thống nghiên cứu? Nên đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ở các trường đại học cấp cao. Song song, trong tình hình hiện nay của Việt nam (các giáo viên ở đại học không có đủ thì giờ để làm công tác nghiên cứu) nên đẩy mạnh hoạt động của các trung tâm nghiên cứu quốc gia (TTNCQG). Nhưng phải làm thế nào để có quan hệ chặt chẽ giữa TTNCQG và các trường đại học. Ở Pháp, có rất nhiều đơn vị nghiên cứu hỗn hợp gồm có giáo viên đại học và nghiên cứu viên của TTNCQG.
    Có nên có những nghiên cứu viên “suốt đời” (à vie) hay không? Theo ý tôi, nên có, nhưng phải hạn chế số lượng. Những nghiên cứu viên, sau khi được tuyển bởi Trung tâm nói trên, phải trải qua một thời gian “thử thách” (5 năm) để Trung tâm kiểm nghiệm xem họ có đủ khả năng nghiên cứu suốt đời hay không? Tuyển nghiên cứu viên cũng phải do một hội đồng khoa học (mỗi bộ môn có một hội đồng), dựa trên các công trình nghiên cứu và đề án nghiên cứu của các thí sinh.
    5. Về chất lượng trong giáo dục, nghiên cứu: Ngay cả trong lãnh vực giáo dục, nghiên cứu, toàn cầu hóa cũng trở nên tất yếu. Các đại học Việt nam, các trung tâm nghiên cứu ở Việt nam, các nhà khoa học Việt nam, cũng sẽ phải cạnh tranh với cộng đồng khoa học thế giới. Do đó:
    a) Cần xem xét giáo trình ở Việt nam có ngang tầm với các giáo trình của các trường đại học trên thế giới (một ví dụ: trong lãnh vực kinh tế học, một giáo viên đại học Việt nam lúc làm luận án ở Pháp, đã rất “khổ sở” vì thiếu kiến thức kinh tế cần thiết) hay không?
    b) Trong lãnh vực nghiên cứu, các công trình phải được công bố trong các tạp chí Việt nam và đặc biệt, trong các tạp chí khoa học quốc tế. Mỗi giáo viên, mỗi nghiên cứu viên, nếu muốn đuợc” tăng chức” (promoted) phải đạt tiêu chuẩn. Một tiêu chuẩn quan trọng là các công trình đựơc đăng ở tạp chí quốc tế. Sự cạnh tranh khoa học này đẩy mạnh sự phát triển trí tuệ, không riêng gì của Việt nam, mà của toàn cộng đồng khoa học thế giới. Mỗi bộ môn ở Việt nam cũng nên có ít nhất một tạp chí có tầm cỡ quốc tế bằng tiếng Anh (do đó, một tạp chí quốc tế không bắt buộc phải là tạp chí nước ngoài).
    Nghiên cứu cần dụng cụ và đặc biệt tạp chí khoa học, sách khoa học. Nhưng nhu cầu này rất tốn kém. Đó một lý do để nhà nước, trước mắt, tập trung vào một số lãnh vực.
    6. Chảy máu chất xám: có nên để các em đi học nước ngoài với khả năng có một số em sẽ định cư lâu dài, hoặc vĩnh viễn ở nước ngoài? Vấn đề rất nhậy cảm. Nhưng trước mắt, theo ý tôi, nên để các em ra đi, vì những lý do sau đây:
    a) Phát triển trí tuệ, tiềm năng khoa học là một việc cần làm. Sử dụng được ở Việt nam trí tuệ đã được đào tạo là rất quý và tối ưu nhất. Nhưng nếu không làm được việc đó, trí tuệ đã được đào tạo sẽ giúp trí tuệ thế giới phát triển và gián tiếp cũng sẽ có “lời” cho Việt nam.
    b) Những du học sinh, sau khi tốt nghiệp, nếu định cư ở nước ngoài (dài hạn, ngắn hạn) có thể giúp cộng đồng khoa học Việt nam trong việc hợp tác khoa học, giao lưu khoa học với bên ngoài. Những người này, nếu có vị trí tốt trong cộng đồng bên ngoài, có thể làm nhịp cầu vững chắc giữa trong và ngoài nước. Họ có thể trở về hợp tác giảng dậy, nghiên cứu trong khi chờ đợi Việt nam có thể sử dụng tốt khả năng trí tuệ của họ.
    c) Hàn quốc trong những năm 60, 70 đã gửi người đi học nước ngoài. Một số đã ở lại bên ngoài một thời gian. Đến khi kinh tế Hàn quốc đi lên, họ trở về nước. Tôi hy vọng, và tin tưởng rằng kinh tế Việt nam ngày càng đi lên. Cho nên tôi không phản đối việc để các em đi du học bên ngoài. Nhưng nhà nước nên chủ động “vận dụng” những người đi du học nhưng quyết định chưa về lại Việt nam làm “công tác” hợp tác. Nếu không làm gì cả, thì đúng là “hoàn toàn” chảy máu chất xám.
    d) Chất xám Việt nam sẽ ngưng chảy ra bên ngoài khi nào giáo dục, nghiên cứu ở Việt nam đạt tầm cỡ thế giới và khi nào người làm công tác đó được sử dụng tốt, được một cuộc sống đàng hoàng.
    7. Tài chính: Có lẽ nhà nước cũng nên “rà” lại hệ thống quản lý của mình để giảm bớt những nhu cầu không cần thiết và sử dụng số tiền dôi ra cho giáo dục. Nhưng theo tôi, cũng không thể nào trang trải đủ. Do đó nên đẩy mạnh các hình thức “mạnh thường quân” (mécénat). Ví dụ: các chủ xí nghiệp nên đóng góp vào ngân sách các trường tiểu học, trung học, đại học và đơn vị nghiên cứu. Thứ nhất, một số chủ xí nghiệp cũng “xuất thân” từ đó. Bổn phận, và cũng là niềm hãnh diện, là nâng cao chất lượng các trường đó. Hơn nữa nếu trí tuệ phát triển, năng suất lao động (lao động chất xám hay lao động chân tay) sẽ tăng, và năng suất sản xuất cũng tăng theo và sẽ có lợi cho các xí nghiệp. Ngược lai, nhà nước nên có những biện pháp giảm thuế cho các xí nghiệp “mạnh thường quân”. Các trường cũng nên có “sổ vàng” (livre d’or) đề cao các”mạnh thường quân”. Nói chung, nên phát triển tư tưởng: Khoa học, đào tạo, giảng dậy, nghiên cứu là sự nghiệp chung của toàn dân, có lợi cho mọi người.
    8. Điểm cuối cùng: tôi ý thức là những suy nghĩ, những đề nghị của tôi rất dễ bị đánh giá là “tân tự do”, “phi XHCN”, hoặc đi ngược lại với chủ nghĩa xã hội, phản dân chủ (antidemocratique). Nhưng đối với tôi, chủ nghĩa xã hội là làm sao mọi người được hạnh phúc, trong đó có hạnh phúc được hiểu biết, được phát triển trí tuệ. Hơn nữa, qua quá trình phát triển vật chất bảo đảm một đời sống ấm no cũng phải dựa trên phát triển trí tuệ. Với một nước nghèo như Việt nam, “élitisme” chỉ là một công cụ tạm thời để tạo ra một tầng lớp trí thức có đủ khả năng thực hiện bước đầu của quá trình phát triển xã hội mà người dân Việt nam đang mong đợi. Đối với tôi hình thành một tầng lớp trí thức ưu tú qua các đại học quốc tế hoặc các trường có chất lượng cao không ”phản” dân chủ. Vấn đề là hình thức tuyển sinh, tuyển tài năng phải dân chủ, không loại trừ tầng lớp nào trong xã hội: giầu, nghèo, thôn quê, thành thị. Tuyển tài năng không được dựa trên quyền lực, tiền bạc, hoặc quan hệ bạn bè.
    Nguồn: Hướng về Giáo dục http://www.ncst.ac.vn/HVGD/

    Lê Văn Cường (Theo http://www.ncst.ac.vn)



     Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


    Những bài viết khác:



    Lên đầu trang

     
    CÔNG TY CÔNG NGHỆ TIN HỌC NHÀ TRƯỜNG
     
    Phòng 804 - Nhà 17T1 - Khu Trung Hoà Nhân Chính - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
    Phone: 024.62511017 - 024.62511081
    Email: kinhdoanh@schoolnet.vn


    Bản quyền thông tin trên trang điện tử này thuộc về công ty School@net
    Ghi rõ nguồn www.vnschool.net khi bạn phát hành lại thông tin từ website này
    Site xây dựng trên cơ sở hệ thống NukeViet - phát triển từ PHP-Nuke, lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL.