Hotline: 024.62511017

024.62511081

  Trang chủ   Sản phẩm   Phần mềm Dành cho nhà trường   Phần mềm Hỗ trợ học tập   Kho phần mềm   Liên hệ   Đăng nhập | Đăng ký

Tìm kiếm

School@net
 
Xem bài viết theo các chủ đề hiện có
  • Hoạt động của công ty (728 bài viết)
  • Hỗ trợ khách hàng (494 bài viết)
  • Thông tin tuyển dụng (57 bài viết)
  • Thông tin khuyến mại (81 bài viết)
  • Sản phẩm mới (218 bài viết)
  • Dành cho Giáo viên (552 bài viết)
  • Lập trình Scratch (3 bài viết)
  • Mô hình & Giải pháp (155 bài viết)
  • IQB và mô hình Ngân hàng đề kiểm tra (126 bài viết)
  • TKB và bài toán xếp Thời khóa biểu (242 bài viết)
  • Học tiếng Việt (182 bài viết)
  • Download - Archive- Update (289 bài viết)
  • Các Website hữu ích (71 bài viết)
  • Cùng Học (98 bài viết)
  • Learning Math: Tin học hỗ trợ học Toán trong nhà trường (74 bài viết)
  • School@net 15 năm (153 bài viết)
  • Mỗi ngày một phần mềm (7 bài viết)
  • Dành cho cha mẹ học sinh (123 bài viết)
  • Khám phá phần mềm (122 bài viết)
  • GeoMath: Giải pháp hỗ trợ học dạy môn Toán trong trường phổ thông (36 bài viết)
  • Phần mềm cho em (13 bài viết)
  • ĐỐ VUI - THƯ GIÃN (360 bài viết)
  • Các vấn đề giáo dục (1209 bài viết)
  • Bài học trực tuyến (1033 bài viết)
  • Hoàng Sa - Trường Sa (17 bài viết)
  • Vui học đường (276 bài viết)
  • Tin học và Toán học (220 bài viết)
  • Truyện cổ tích - Truyện thiếu nhi (181 bài viết)
  • Việt Nam - 4000 năm lịch sử (97 bài viết)
  • Xem toàn bộ bài viết (8222 bài viết)
  •  
    Đăng nhập/Đăng ký
    Bí danh
    Mật khẩu
    Mã kiểm traMã kiểm tra
    Lặp lại mã kiểm tra
    Ghi nhớ
     
    Quên mật khẩu | Đăng ký mới
    
     
    Giỏ hàng

    Xem giỏ hàng


    Giỏ hàng chưa có sản phẩm

     
    Bản đồ lưu lượng truy cập website
    Locations of visitors to this page
     
    Thành viên có mặt
    Khách: 5
    Thành viên: 0
    Tổng cộng: 5
     
    Số người truy cập
    Hiện đã có 83869340 lượt người đến thăm trang Web của chúng tôi.

    "Dịch" học cao học: Hiếu học ngây thơ và phong trào

    Ngày gửi bài: 04/12/2007
    Số lượt đọc: 2464

    Để khắc phục tình trạng thạc sĩ, tiến sĩ “giấy” tràn lan, PGS Phạm Duy Nghĩa cho rằng cần phải quan niệm lại mục đích đào tạo các cấp bậc này ở VN và trao quyền tự chủ trong dùng tiền, dùng người, dùng chương trình cho các trường



    PV: Trong một bài báo, ông đã đề cập đến chất lượng đào tạo tiến sĩ ở VN bằng một lối ví von sắc sảo: “Y phục phải xứng với kỳ đức”. Vậy theo ông, vấn đề “y phục chưa xứng đáng với kỳ đức” trong đào tạo tiến sĩ VN thể hiện ở những điểm nào?

    PGS Phạm Duy Nghĩa (PDN): Bất cập trong đào tạo tiến sĩ chắc là nhiều. Tôi cho rằng vấn đề đặt ra là phải hiểu thế nào là đào tạo sau đại học. Bạn học một khóa thạc sĩ, tiến sĩ để theo đuổi mục đích gì? Hiện nay định nghĩa, mục đích đào tạo tiến sĩ chưa rõ. Đào tạo thạc sĩ để nâng cao, dạy nghề hay bổ sung kiến thức… còn rất nhập nhằng. Đào tạo tiến sĩ để nghiên cứu, để giảng dạy hay là để kiếm một cái bằng kiểu như là cao cấp hơn thạc sĩ? Một cuộc điều tra mới công bố cho thấy, những sinh viên tốt nghiệp đại học ở Trung Quốc đã bắt đầu xem xét giá trị thực của việc tiếp tục học lấy tấm bằng thạc sĩ. Tỷ lệ sinh viên học cao học đang sụt giảm dần.

    Toàn bộ nền công vụ Việt Nam cũng vun đắp, ưu đãi nhân lực dựa trên tiêu chí này. Toàn bộ nền học vấn VN bị méo bởi chủ nghĩa trọng bằng, không trọng chữ, trọng nghề, không trọng đạo đức nghề nghiệp.

    Tùy từng mục đích, đối tượng thì mới “đẻ” ra phương pháp. Một số nước coi đào tạo thạc sĩ chỉ là một thứ bằng bổ sung chứ không coi như một thứ bằng trên đại học. Ví dụ, một người học Y nhưng muốn trở thành cô giáo thì sẽ học thêm về thạc sĩ giáo dục, một người học Toán muốn kinh doanh thì phải học về thạc sĩ quản trị kinh doanh. Như vậy người ta hiểu thạc sĩ là một cấp học sau đại học theo nghĩa bổ túc cho những người đã có một nền tảng đại học rồi. Mô hình nhỏ của Mỹ là như vậy.

    Người Đức lại hiểu thạc sĩ là mô hình trong vòng 9 tháng đến 1 năm rưỡi mang tính bổ sung kiến thức, thậm chí bằng thạc sĩ ở Đức không bằng bằng đại học. Người nước ngoài sang học tập một khóa về Luật thì đó là khóa học tìm hiểu luật pháp Đức chứ không thể hành nghề ở Đức được. Như vậy mỗi nước lại có những quan niệm khác nhau về thạc sĩ. Nếu mình quan niệm rõ thì mới có mục đích và phương pháp thích hợp. Đào tạo sau ĐH ở VN chưa rõ mục đích nên xã hội hiểu lầm: thạc sĩ cao cấp hơn đại học, tiến sĩ cao cấp hơn thạc sĩ. Vì vậy trong toàn bộ chế độ lương bổng của Bộ Nội vụ, thạc sĩ được ưu ái thậm chí về tỉnh còn được tặng 25-30 triệu nếu có bằng thạc sĩ.

    Đào tạo tiến sĩ ở VN càng không phải đào tạo để nghiên cứu cao cấp. Nếu chúng ta quan niệm đào tạo tiến sĩ cho những người nghiên cứu chuyên sâu và giảng dạy thì nghiên cứu sinh phải gắn với các bộ môn, với công việc nghiên cứu. Vì mình quan niệm tiến sĩ là cấp học cao hơn thạc sĩ nên chương trình đào tạo không phải dành cho người nghiên cứu. Xã hội cũng có những nhìn nhận khác về tiến sĩ.

    Từ bất cập về mục đích dẫn đến bất cập về số lượng, chất lượng và phương pháp. Ví dụ ở Mỹ có các Hiệp hội để định chuẩn. Một trường muốn đào tạo thì ít nhất tỷ lệ giáo viên trên sinh viên phải như thế này, có bằng này mét vuông thư viện, đầu sách, máy tính, phòng thí nghiệm…Vì VN không có những Hiệp hội định chuẩn nên quy mô luôn vượt quá xa khả năng. Loại hình đào tạo tại chức xuất hiện cách đây 10-15 năm bây giờ đang muốn nâng cấp lên. Xã hội đang có làn sóng tại chức, chuyên tu muốn “tráng men” bằng thạc sĩ. Theo luật của VN thì đều là bằng cấp được bộ Giáo dục - Đào tạo công nhận. Giai đoạn này VN đang chứng kiến quá trình “thạc sĩ hóa” cả những người không đỗ ĐH. Số lượng sinh viên như thế rất hấp dẫn với trường vì kèm theo đó sẽ là tiền, thu nhập giảng viên…Tất cả các lớp buổi tối của các trường Thương mại, Kinh tế, Luật, Ngoại thương…các nhà gửi xe luôn đầy ắp vì người ta có nhu cầu “rửa” bằng. Đào tạo tiến sĩ còn khủng hoảng hơn nữa vì người ta không coi đào tạo tiến sĩ là một nghề nghiên cứu thành ra chương trình rất lỏng lẻo.

    PV: Chương trình lỏng lẻo phải chăng là do các trường “buông” để chạy theo chỉ tiêu đào tạo của Bộ GD=ĐT mà bất chấp chất lượng?

    PDN: Chất lượng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tồi vì sao? Cái này Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nói đúng, vì các trường cần có tiền. Với khuôn khổ hiện nay các trường rất nghèo, không thể trả một ông GS với đồng lương khoảng 2-3 triệu/tháng trong khi tư nhân trả 30-40 triệu/tháng. Để giữ người nhà trường phải đa dạng nguồn thu càng nhiều càng tốt. Vì thế các trường đua nhau nghĩ ra trăm ngàn kế để đảm bảo nuôi quân. Chất lượng giáo dục vì thế mà giảm sút vì quy mô vượt quá điều kiện sẵn có.

    Thi đầu vào tiến sĩ ở VN rất khó nhưng hầu như không một thí sinh nào trượt, 100% sau ba năm nghiên cứu đều trở thành tiến sĩ. Vấn đề nằm sâu hơn ở chỗ quá trình đào tạo tiến sĩ đã khắt khe hay chưa? Có vẻ như chưa! Ví dụ như ở ĐH Quốc gia, nghiên cứu sinh phải tham gia khóa học cơ sở về Triết, Kinh tế chính trị, chuyên đề, ngoại ngữ với yêu cầu phải đọc, dịch trôi chảy. Sau đó anh phải bảo vệ một luận án 300 trang do Hội đồng 3 giáo sư phản biện. Trong những năm làm nghề dạy học, tôi đã giúp người học viết và tham gia chấm có lẽ đến hàng trăm khoá luận, luận văn và luận án tiến sĩ Luật học. Điều thú vị là, ngoại trừ luận án tiến sĩ của một người Trung Quốc đã bảo vệ năm 2004, tất cả các bài luận văn, luận án Tiến sĩ Luật của học viên Việt Nam mà tôi tham gia chấm đều tròn trịa 3 chương với cách đặt vấn đề, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu na ná giống nhau…

    Hầu như không có một bài nào có kết quả điều tra thực tế, phỏng vấn chuyên gia, thực nghiệm, rất ít bài có trích án lệ từ thực tiễn xét xử của ngành toà án. Các thông tin có được dường như đều dựa trên cái gọi là “nghiên cứu tư liệu”; nói cách khác, đều tự biện luận hoặc tóm lược biện luận của người khác rồi xào xáo đưa ra ý riêng của mình. Cuối các bài “tam đoạn luận” thường có một chương xinh xắn với những định hướng và kiến nghị, sửa điều nọ, chỉnh điều kia, thậm chí là xây dựng thêm một vài đạo luật mới.

    Đào tạo tiến sĩ lỏng lẻo trong toàn bộ chương trình.

    Ví dụ khi chấm một nghiên cứu sinh người ta sẽ quan tâm ai là thầy anh ấy, nếu mình dánh trượt thì lại liên quan đến thầy của anh ta. Sự nể mặt nhau có “vai trò” rất lớn.

    Hai là, sự khó khăn trong thẩm định những cái mới đưa ra. Nếu các thầy khắt khe hơn buộc nghiên cứu sinh chỉ rõ cái mới, cái khác biệt, kỷ luật trích dẫn thì chất lượng đào tạo sẽ khá hơn. Nhưng hiện này các nghiên cứu sinh thay đổi phông chữ, cỡ chữ, cắt dán, xào xáo rất nghệ thuật.

    Ba là, nghiên cứu định tính trong nghiên cứu sinh rất thấp. Điều này bắt nguồn từ xã hội VN duy tình, nói cái gì cũng không có nghiên cứu và kiểm chứng thực tế. Những nghiên cứu trong khoa học xã hội toàn định hướng, đường lối, cảm nhận, tư duy cảm tính. Hiếm có một nghiên cứu nào màn tính điều tra rõ rệt.

    Luận án tiến sĩ cũng không nên chỉ đánh giá trong 200 trang này mà phải đánh giá trong quá trình làm việc với nhau, hướng dẫn thực tập, viết bài báo đăng ở những tờ báo khoa học có độc giả. Chứ không phải in trên những tờ báo mỗi năm tài trợ cho nó 200-300 triệu rồi in lên cho không. Gọi đó là báo khoa học thì đúng nhưng tôi sợ rằng sẽ không ai đọc.

    Tùy từng mục đích, đối tượng thì mới “đẻ” ra phương pháp. Một số nước coi đào tạo thạc sĩ chỉ là một thứ bằng bổ sung chứ không coi như một thứ bằng trên đại học. Ví dụ, một người học Y nhưng muốn trở thành cô giáo thì sẽ học thêm về thạc sĩ giáo dục, một người học Toán muốn kinh doanh thì phải học về thạc sĩ quản trị kinh doanh. Như vậy người ta hiểu thạc sĩ là một cấp học sau đại học theo nghĩa bổ túc cho những người đã có một nền tảng đại học rồi. Mô hình nhỏ của Mỹ là như vậy.

    Người Đức lại hiểu thạc sĩ là mô hình trong vòng 9 tháng đến 1 năm rưỡi mang tính bổ sung kiến thức, thậm chí bằng thạc sĩ ở Đức không bằng bằng đại học. Người nước ngoài sang học tập một khóa về Luật thì đó là khóa học tìm hiểu luật pháp Đức chứ không thể hành nghề ở Đức được. Như vậy mỗi nước lại có những quan niệm khác nhau về thạc sĩ. Nếu mình quan niệm rõ thì mới có mục đích và phương pháp thích hợp. Đào tạo sau ĐH ở VN chưa rõ mục đích nên xã hội hiểu lầm: thạc sĩ cao cấp hơn đại học, tiến sĩ cao cấp hơn thạc sĩ. Vì vậy trong toàn bộ chế độ lương bổng của Bộ Nội vụ, thạc sĩ được ưu ái thậm chí về tỉnh còn được tặng 25-30 triệu nếu có bằng thạc sĩ.

    Đào tạo tiến sĩ ở VN càng không phải đào tạo để nghiên cứu cao cấp. Nếu chúng ta quan niệm đào tạo tiến sĩ cho những người nghiên cứu chuyên sâu và giảng dạy thì nghiên cứu sinh phải gắn với các bộ môn, với công việc nghiên cứu. Vì mình quan niệm tiến sĩ là cấp học cao hơn thạc sĩ nên chương trình đào tạo không phải dành cho người nghiên cứu. Xã hội cũng có những nhìn nhận khác về tiến sĩ.

    Từ bất cập về mục đích dẫn đến bất cập về số lượng, chất lượng và phương pháp. Ví dụ ở Mỹ có các Hiệp hội để định chuẩn. Một trường muốn đào tạo thì ít nhất tỷ lệ giáo viên trên sinh viên phải như thế này, có bằng này mét vuông thư viện, đầu sách, máy tính, phòng thí nghiệm…Vì VN không có những Hiệp hội định chuẩn nên quy mô luôn vượt quá xa khả năng. Loại hình đào tạo tại chức xuất hiện cách đây 10-15 năm bây giờ đang muốn nâng cấp lên. Xã hội đang có làn sóng tại chức, chuyên tu muốn “tráng men” bằng thạc sĩ. Theo luật của VN thì đều là bằng cấp được bộ Giáo dục - Đào tạo công nhận. Giai đoạn này VN đang chứng kiến quá trình “thạc sĩ hóa” cả những người không đỗ ĐH. Số lượng sinh viên như thế rất hấp dẫn với trường vì kèm theo đó sẽ là tiền, thu nhập giảng viên…Tất cả các lớp buổi tối của các trường Thương mại, Kinh tế, Luật, Ngoại thương…các nhà gửi xe luôn đầy ắp vì người ta có nhu cầu “rửa” bằng. Đào tạo tiến sĩ còn khủng hoảng hơn nữa vì người ta không coi đào tạo tiến sĩ là một nghề nghiên cứu thành ra chương trình rất lỏng lẻo.

    PV: Chương trình lỏng lẻo phải chăng là do các trường “buông” để chạy theo chỉ tiêu đào tạo của Bộ GD=ĐT mà bất chấp chất lượng?

    PDN: Chất lượng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tồi vì sao? Cái này Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nói đúng, vì các trường cần có tiền. Với khuôn khổ hiện nay các trường rất nghèo, không thể trả một ông GS với đồng lương khoảng 2-3 triệu/tháng trong khi tư nhân trả 30-40 triệu/tháng. Để giữ người nhà trường phải đa dạng nguồn thu càng nhiều càng tốt. Vì thế các trường đua nhau nghĩ ra trăm ngàn kế để đảm bảo nuôi quân. Chất lượng giáo dục vì thế mà giảm sút vì quy mô vượt quá điều kiện sẵn có.

    Thi đầu vào tiến sĩ ở VN rất khó nhưng hầu như không một thí sinh nào trượt, 100% sau ba năm nghiên cứu đều trở thành tiến sĩ. Vấn đề nằm sâu hơn ở chỗ quá trình đào tạo tiến sĩ đã khắt khe hay chưa? Có vẻ như chưa! Ví dụ như ở ĐH Quốc gia, nghiên cứu sinh phải tham gia khóa học cơ sở về Triết, Kinh tế chính trị, chuyên đề, ngoại ngữ với yêu cầu phải đọc, dịch trôi chảy. Sau đó anh phải bảo vệ một luận án 300 trang do Hội đồng 3 giáo sư phản biện. Trong những năm làm nghề dạy học, tôi đã giúp người học viết và tham gia chấm có lẽ đến hàng trăm khoá luận, luận văn và luận án tiến sĩ Luật học. Điều thú vị là, ngoại trừ luận án tiến sĩ của một người Trung Quốc đã bảo vệ năm 2004, tất cả các bài luận văn, luận án Tiến sĩ Luật của học viên Việt Nam mà tôi tham gia chấm đều tròn trịa 3 chương với cách đặt vấn đề, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu na ná giống nhau…

    Hầu như không có một bài nào có kết quả điều tra thực tế, phỏng vấn chuyên gia, thực nghiệm, rất ít bài có trích án lệ từ thực tiễn xét xử của ngành toà án. Các thông tin có được dường như đều dựa trên cái gọi là “nghiên cứu tư liệu”; nói cách khác, đều tự biện luận hoặc tóm lược biện luận của người khác rồi xào xáo đưa ra ý riêng của mình. Cuối các bài “tam đoạn luận” thường có một chương xinh xắn với những định hướng và kiến nghị, sửa điều nọ, chỉnh điều kia, thậm chí là xây dựng thêm một vài đạo luật mới.

    Đào tạo tiến sĩ lỏng lẻo trong toàn bộ chương trình.

    Ví dụ khi chấm một nghiên cứu sinh người ta sẽ quan tâm ai là thầy anh ấy, nếu mình dánh trượt thì lại liên quan đến thầy của anh ta. Sự nể mặt nhau có “vai trò” rất lớn.

    Hai là, sự khó khăn trong thẩm định những cái mới đưa ra. Nếu các thầy khắt khe hơn buộc nghiên cứu sinh chỉ rõ cái mới, cái khác biệt, kỷ luật trích dẫn thì chất lượng đào tạo sẽ khá hơn. Nhưng hiện này các nghiên cứu sinh thay đổi phông chữ, cỡ chữ, cắt dán, xào xáo rất nghệ thuật.

    Ba là, nghiên cứu định tính trong nghiên cứu sinh rất thấp. Điều này bắt nguồn từ xã hội VN duy tình, nói cái gì cũng không có nghiên cứu và kiểm chứng thực tế. Những nghiên cứu trong khoa học xã hội toàn định hướng, đường lối, cảm nhận, tư duy cảm tính. Hiếm có một nghiên cứu nào màn tính điều tra rõ rệt.

    Luận án tiến sĩ cũng không nên chỉ đánh giá trong 200 trang này mà phải đánh giá trong quá trình làm việc với nhau, hướng dẫn thực tập, viết bài báo đăng ở những tờ báo khoa học có độc giả. Chứ không phải in trên những tờ báo mỗi năm tài trợ cho nó 200-300 triệu rồi in lên cho không. Gọi đó là báo khoa học thì đúng nhưng tôi sợ rằng sẽ không ai đọc.

    Ở khoa Luật chúng tôi, 10 thầy cô làm việc trong một văn phòng 12 mét vuông. Không có nơi nào 10 thầy cô phụ trách 6 nghiên cứu sinh, 60 thạc sĩ, 400 sinh viên các loại mà lại có mỗi một phòng ốc như thế.

    Luận án tiến sĩ phải có luận điểm. 200 trang đưa lên một thông điểm hay nói là anh phải đưa ra một luận điểm và đưa ra những lý lẽ minh họa. Những tác phong khoa học này còn yếu. PV: Có ý kiến cho rằng, không phải lúc nào đề bài cũng đúng. Có những kết quả cho sai từ những đầu bài sai. Chất lượng đào tạo sau cao học còn nhiều bất cập, phần nào có trách nhiệm của nhà trường, mà chủ yếu là những “ông thầy” đào tạo, hướng dẫn, phản biện?

    PDN: Nói như anh Nguyễn Sĩ Dũng là một nồi cơm được nấu lại nhiều lần. Cách đây không lâu tôi có viết bài báo khoa học “Dám so mình với thế giới bên ngoài?”. Một trường ĐH tốt trước hết thư viện phải tốt, cơ sở giảng dạy tốt. Chất lượng ông thầy tốt liên quan đến nhiều điều như tuyển dụng, đãi ngộ, sự tự chủ kèm trách nhiệm, phòng làm việc… Ở khoa Luật chúng tôi, 10 thầy cô làm việc trong một văn phòng 12 mét vuông. Tôi đã nói nhiều lần không có nơi nào 10 thầy cô phụ trách 6 nghiên cứu sinh, 60 thạc sĩ, 400 sinh viên các loại mà có mỗi một phòng ốc như thế này… Nhìn tổng quan, muốn dạy tốt thì phải có sách, có phòng thí nghiệm, có môi trường sư phạm, thậm chí cả nơi ăn nghỉ tốt …

    Có một lần tranh luận về đào tạo chất lượng cao, tôi đã dùng camera quay cảnh ăn uống ở khuôn viên trường. Một nhà trường tốt phải có nhà ăn cho sinh viên, giảng viên, chứ không thể để thầy nhồm nhoàm ăn như học trò dưới gốc cây. Thư viện đáng lẽ mở cửu từ 6h sáng đến 10h đêm thì mở cửa như giờ hành chính. Vật chất có tác động rất lớn đến tinh thần người thầy.

    PV: Bất chấp thực tế đáng buồn về chất lượng đào tạo, người dân vẫn đổ xô đi học cao học, tiến sĩ. Ông có thể lý giải như thế nào về hiện tượng bất thường này? PDN: Việt Nam chắc chắn là một dân tộc hiếu học nhưng hiếu học ngây thơ và phong trào. Xã hội vẫn quan niệm ai đó là thạc sĩ chắc là phải cao hơn ĐH, là tiến sĩ phải cao hơn thạc sĩ. Toàn bộ nền công vụ Việt Nam cũng vun đắp, ưu đãi nhân lực dựa trên tiêu chí này. Toàn bộ nền học vấn VN bị méo bởi chủ nghĩa trọng bằng, không trọng chữ, trọng nghề, không trọng đạo đức nghề nghiệp. Trong xã hội, một anh thợ có đạo đức nghề nghiệp không chắc đã được tôn vinh bằng những người có bằng cấp khác. Anh chỉ là một thợ sơn nhưng nghĩ ra những công thức sơn bóng, bền… thì cũng đáng được tôn vinh chứ, nhưng xã hội cứ nghĩ càng tích lũy được nhiều bằng cấp thì càng an toàn, càng được trọng vọng. Vì sự thiên vị như vậy nên đánh giá của hệ thống đã bị méo đi.

    Hiện nay, xã hội VN hàng năm có khoảng 1 triệu người trẻ tuổi đi vào thị trường lao động. Có hai khu vực lớn đón tiếp họ là khu vực công gồm các cơ quan nhà nước, hành chính, sự nghiệp và khu vực tư nhân. Bản thân tôi không tin rằng khu vực tư nhân trọng bằng cấp. Nếu anh đi học tiến sĩ ở Mỹ về mà làm việc như văn thư thì cũng chỉ được trả lương như vậy. Là tiến sĩ nhưng không làm được việc thì vô số tiến sĩ sẽ thất nghiệp. Kinh tế tư nhân với lợi ích của ông chủ sẽ chọn người biết làm việc. Có người được trả lương 30 đến 40 triệu/ tháng nhưng chưa chắc đã có bằng ĐH loại ưu. Kinh tế tư nhân phát triển thì sẽ tự thân có nhu cầu dùng người có kỹ năng, kỷ luật lao động, có hoài bão hơn là có bằng cấp.

    Nhưng khu vực hành chính công, công chức Nhà nước cũng rất hấp dẫn vì ở đó có một số an toàn, một số ghi nhận xã hội, cơ may thăng tiến, thậm chí nếu vào đúng kênh cũng có những lợi ích riêng rất đáng kể. Hiện này khu vực công đang có những động cơ, chính sách bị làm méo. Cơ bản vẫn là chủ nghĩa trọng bằng, coi bằng cấp như là tiền lệ đầu vào của công chức. Ví dụ trong thi tuyển công chức vẫn chọn những em có bằng loại ưu, như vậy vẫn ưu tiên bằng điểm chứ không phải năng lực. Ưu tiên bằng thạc sĩ tức là trọng bằng. Cái bằng đó sau này có làm được việc hay không lại không thành vấn đề khác.

    Vậy mình phải thay đổi tư duy tuyển công chức dựa trên năng lực làm việc chứ không phải bằng ưu, không phải thạc sĩ, tiến sĩ “giấy”. Và cũng đừng lấy bằng cấp như một điều kiện đủ. Đào tạo chuyên môn chỉ là một phần của đào tạo công chức. Còn đào tạo công vụ, tư cách, thái độ phục vụ nữa. Hiện nay quan niệm trên vẫn đang bị méo nên cơn sốt bằng cấp vẫn bùng nổ.

    PV: Theo ông tâm lý “trọng bằng” trong khu vực công có dễ thay đổi?

    PDN: Nếu làm được điều đó thì tốt vì nó sẽ phù hợp với khu vực tư nhân và có thể làm lành mạnh hóa nhu cầu đào tạo Tôi nghĩ là không khó. Bộ Nội vụ có Vụ Công chức. Vụ đó nên nghiên cứu kỹ về chính sách cán bộ và đưa ra những quy định mới về tuyển dụng nhân sự như tuyển dụng dựa trên sự phù hợp năng lực, trên đánh giá về kiến thức, kỹ năng, ứng xử với một vấn đề xã hội đặt ra. Những bài kiểm tra sẽ dựa trên tiêu chí khác. Nếu có một cuộc cách mạng trong tuyển dụng thì sẽ thay đổi được bức tranh đào tạo sau cao học. Tín hiệu đó có thể chưa phát huy hiệu quả tức thì trước mắt nhưng 5 năm sau nó có thể giảm đáng kể.

    PV: Như vậy sự tiến bộ của xã hội sẽ tự điều chỉnh những mảng tối này? PDN: Hiện nay chúng ta đánh giá dựa trên chứng chỉ nên trong xã hội có cơn sốt sưu tầm chứng chỉ. Thị trường lao động do đó đã bị đặt những tín hiệu sai. Khi thị trường được đặt đúng nó sẽ tác động lại bằng cách đặt đúng tín hiệu cho thị trường đào tạo. Tất nhiên quá trình dịch chuyển thị trường có thể diễn ra trong 5 năm, 10 năm. Ở TP.HCM có những khóa đào tạo không cấp chứng chỉ mà chỉ bồi dưỡng kiến thức thu hút rất đông người học.

    PV: Vậy theo ông, những giải pháp cơ bản nào có thể tác động tích cực đến bức tranh đào tạo sau ĐH còn tồn tại quá nhiều bất cập như hiện nay?

    PDN: Theo tôi, muốn cải tổ thì trước hết phải định nghĩa lại đào tạo sau ĐH nghĩa là gì? Học sinh học xong lớp 12 về cơ bản trình độ mới rất phổ thông. Đại học nên giới thiệu cho người ta những kiến thức cơ bản. Còn sau này muốn giáo viên, bác sĩ, luật sư thì phải học thạc sĩ.

    Thạc sĩ chỉ nên giống như đào tạo một nghề sau khóa ĐH cơ bản. Vì thế đầu vào có thể chọn nghề khác chứ không nhất thiết cứ là nghề đã học trong ĐH. Tôi lấy ví dụ một thạc sĩ luật học không nhất thiết là một người học luật mà anh có thể là kỹ sư, kế toán…Muốn hành nghề luật tốt phải có vốn sống. Một anh luật sư muốn tư vấn, một anh thẩm phán muốn “phán” cuộc đời, số phận người khác phải có sự trải nghiệm. Mà sự trải nghiệm này không thể có trong 4 năm ĐH. Đại học 3-5 năm chỉ đưa lại cho sinh viên một nhận thức về nghề nghiệp chứ chưa phải kỹ năng một nghề nghiệp nào cả.

    Xã hội cần coi ĐH như một thứ đại cương, là tấm vé tối thiểu để anh tham gia thị trường lao động hàn lâm. Còn nếu không muốn theo thị trường lao động cổ cồn đó thì hết lớp 9, anh có thể đi học nghề, trở thành công nhân bậc 1, bậc 2… Như vậy quan niệm về đại học phải bẻ ghi hẳn từ ĐH hàn lâm sang ĐH dạy nghề. Đừng coi sau ĐH là bằng nâng cao của ĐH. Đào tạo tiến sĩ càng cần phải tranh luận thấu đáo hơn nữa. Tôi cho rằng không nên coi tiến sĩ là một trình độ cao hơn thạc sĩ. Tiến sĩ trước hết phải là người đào tạo cho nghiên cứu và giảng dạy. Vì lẽ đó, những người có chức có quyền trong cơ quan nhà nước không nên làm tiến sĩ. Chỉ có người nào đam mê nghiên cứu, giảng dạy thì nên làm tiến sĩ. Vậy thì nghiên cứu sinh phải làm công tác trợ giảng, tham gia nghiên cứu, viết luận, viết báo…

    Nếu mình thấy đào tạo sau ĐH chưa tốt thì những công cụ, biện pháp để điều chỉnh là gì? Những việc đó không phải là việc riêng của bộ GD- ĐT mà là việc của từng trường. Muốn cải cách giáo dục, yêu cầu đặt ra là các trường phải được tự chủ. Tự chủ lo lấy số phận, hình ảnh, chương trình cũng như trường phái của mình.

    Muốn vậy chính sách dài hạn, trung hạn là phải trả tự do cho các trường. Vai trò của bộ Giáo dục-Đào tạo không phải là ấn định chỉ tiêu, tổ chức thi tuyển mà là định chuẩn như thế nào thì được đào tạo cao học, điều kiện tối thiểu về thầy, mặt bằng, phòng thí nghiệm và các cơ sở vật chất khác, giáo trình, thư viện như thế nào thì được đào tạo ĐH… Nếu không đáp ứng được yêu cầu thì rút phép vì kinh doanh giáo dục cũng phải là một thứ kinh doanh sinh lợi. Đầu tư vào GD rất lãi vì nhu cầu của người học rất lớn nên nếu không định chuẩn rõ sẽ có hàng loạt trường yếu kém ra đời.

    Ý đồ của Bộ trưởng Giáo dục-Đào tạo là 2 vạn tiến sĩ nhưng với chất lượng như thế nào, đào tạo ra sao, tại sao là 2 vạn, lý lẽ gì thì tôi chưa hiểu nên không bình luận. Nhưng tôi tin một thứ kế hoạch hóa như vậy sẽ không hiệu quả. Cách tốt nhất để nâng cao chất lượng đào tạo vẫn là cho nhà trường quyền dùng tiền, quyền dùng người (Giáo sư tại sao lại là công chức suốt đời. Nếu sinh viên đánh giá ông kém thì chúng tôi có quyền sa thải ông); quyền soạn giáo án, chương trình, tổ chức các khóa giảng dạy khác nhau.

    PV: Xin cám ơn ông!

    school@net (Theo http://www.vietimes.com.vn/vn/chuyende/4080/index.viet)



     Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


    Những bài viết khác:



    Lên đầu trang

     
    CÔNG TY CÔNG NGHỆ TIN HỌC NHÀ TRƯỜNG
     
    Phòng 804 - Nhà 17T1 - Khu Trung Hoà Nhân Chính - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
    Phone: 024.62511017 - 024.62511081
    Email: kinhdoanh@schoolnet.vn


    Bản quyền thông tin trên trang điện tử này thuộc về công ty School@net
    Ghi rõ nguồn www.vnschool.net khi bạn phát hành lại thông tin từ website này
    Site xây dựng trên cơ sở hệ thống NukeViet - phát triển từ PHP-Nuke, lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL.